vanban.org

Bản án 78/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Thanh H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2018. Phạt bổ sung bị cáo H 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C và đồng bọn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2018/HSST
Ngày 10 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Thu Hương.

Ông Nguyễn Đức Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/Nguyễn Văn C; sinh năm: 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Q và bà: Nguyễn Thị Hồng L; tiền án: không; tiền sự: 01 (ngày 15/6/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng theo quyết định số 04/QĐ-TA); nhân thân: ngày 01/8/2012 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 128/2012/HSST); bị bắt giữ ngày: 12/4/2018, tạm giữ ngày: 12/4/2018, bị tạm giam ngày: 14/4/2018.

2/Trần Nguyễn Thanh H (tên gọi khác: A); sinh năm: 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký HKTT: đường H, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: T, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà: Trần Thị E (chết); tiền án: không, tiền sự: 01 (ngày 18/01/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng theo quyết định số 04/QĐ-TA); nhân thân: ngày 30/6/2005 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 9 Quận 10 quyết định xử lý hành chính giáo dục tại phường với thời hạn 03 tháng về hành vi “Cướp giật tài sản” theo quyết định số 41/QĐ-UBND, ngày 09/01/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 01/HSST, ngày 30/6/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 102/HSST, ngày 04/8/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng chất ma túy” theo quyết định số 4349/QĐ-UBND; bị bắt tạm giam ngày: 12/4/2018.

(Các bị cáo có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Trúc D – Sinh năm: 1984 (vắng mặt). Thường trú: đường A, Phường C, thành phố L, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thành N – Sinh năm: 1989 (vắng mặt). Thường trú: đường B, Phường S, quận B, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 09/4/2018, Nguyễn Văn C rủ Trần Nguyễn Thanh H (tên khác là A) đi cướp giật tài sản, H đồng ý. H điều khiển xe môtô biển số 59D2-345.43 chở C chạy qua nhiều tuyến đường; khi đến trước nhà số 313 đường Hòa Hảo, Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thì H nhìn thấy chị Nguyễn Trúc D đi bộ (ngược chiều với xe H) và đang sử dụng điện thoại di động; H liền chỉ cho C thấy và cả hai thống nhất giật điện thoại của chị D; H quay đầu xe áp sát bên trái người chị D, còn C ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại, H tăng ga xe chở C tẩu thoát; ngay lúc này, lực lượng Công an phát hiện nên bắt giữ được C, H cùng vật chứng giải giao cho Công an Phường 4, Quận 10; Công an Phường 4, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu để chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra làm rõ. Tuy nhiên, tại Công an Phường 4, Quận 10, Nguyễn Văn C bỏ trốn; nên cơ quan Công an tạm giao H cho gia đình quản lý. Ngày 12/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 bắt được Nguyễn Văn C.

Đối với Trần Nguyễn Thanh H, do vào ngày 30/10/2017 H cùng Nguyễn Thành L thực hiện hành vi cướp giật tài sản tại trước nhà số 195-197 đường Cao Thắng, Phường 12, Quận 10, nên ngày 10/4/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã có Quyết định khởi tố bị can và ngày 12/4/2018 đã bắt bị can để tạm giam đối với Trần Nguyễn Thanh H.

Ngày 14/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Nguyễn Thanh H và Nguyễn Văn C về hành vi “Cướp giật tài sản” như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro màu vàng; cơ quan Công an đã thu hồi và trả lại chị Nguyễn Trúc D. Nhận lại tài sản chị D không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 xe môtô biển số 59D2-345.43; qua xác minh, được biết do anh Nguyễn Thành N là chủ sở hữu hợp pháp. Tháng 3/2018, anh N bán chiếc xe cho Trần Nguyễn Thanh H (chưa làm thủ tục sang tên); H dùng làm phương tiện cùng đồng bọn thực hiện hành vi Cướp giật tài sản.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Văn C, Trần Nguyễn Thanh H về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Các bị cáo Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, sau khi nêu lên các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại) và nhân thân của từng bị cáo; đã đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng đối với từng bị cáo; đề nghị xử phạt các bị cáo: Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

- Về trách nhiệm dân sư, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

- Ý kiến của các bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do các bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản nhận dạng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Các bị cáo đã có hành vi thống nhất ý chí hành động dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe môtô có phân khối lớn, lợi dụng sự sơ hở của người khác mà nhanh chóng công khai cướp giật tài sản của họ ngay trên đường phố, nên các bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điềm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Việc áp dụng hình phạt:

Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Trong vụ án này, bị cáo C là người khởi xướng, trực tiếp chiếm đoạt tài sản còn bị cáo H là người cung cấp phương tiện, điều khiển xe chở đồng bọn cướp giật và tẩu thoát; ngoài ra các bị cáo còn quá trình nhân thân xấu, cụ thể: đối với bị cáo H: ngày 30/6/2005 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 9 Quận 10 quyết định xử lý hành chính giáo dục tại phường với thời hạn 03 tháng về hành vi “Cướp giật tài sản”, ngày 09/01/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 30/6/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 04/8/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Thủ Đức quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng chất ma túy” (tất cả đã được xóa tiền án, tiền sự), ngày 18/01/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng; đối với bị cáo C: ngày 01/8/2012 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (đã xóa án tích), ngày 15/6/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng. Do vậy dù có chiếu cố đến đâu đi nữa, thì hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), phạt bổ sung từng bị cáo một số tiền, nộp ngân sách Nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Vế tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) tương ứng giảm nhẹ một phần hình phạt cho từng bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và giao trả lại cho bị hại; do vậy không có gì để Tòa giải quyết.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 59D2-345.43 (loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Luvias, màu sơn: đen, dung tích xi lanh: 124, số khung: RLCL44S10BY054086, số máy: 44S1 - 054088); qua xác minh, được biết do anh Nguyễn Thành N là chủ sở hữu hợp pháp. Tháng 3/2018, anh Nam bán chiếc xe cho Trần Nguyễn Thanh H (chưa làm thủ tục sang tên); là phương tiện dùng vào việc phạm tội; do vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: các bị cáo Trần Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2, 5 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Nguyễn Thanh H;

Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Thanh H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2018.

Phạt bổ sung bị cáo H 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2, 5 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn C;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2018.

Phạt bổ sung bị cáo C 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô biển số 59D2-345.43 (loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Luvias, màu sơn: đen, dung tích xi lanh: 124, số khung: RLCL44S10BY054086, số máy: 44S1 - 054088).

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2018 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo H chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

- Bị cáo C chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./. Nôi nhaän:

Cỡ chữ