vanban.org

Bản án 78/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Hoàng B, Trần Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản”

Đỗ Hoàng B 03 (ba) năm tù; Trần Quốc C 03 (ba) năm tù; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Hoàng Bảo và đồng bọn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đỗ Hoàng B, Trần Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 78/2018/HSST
Ngày: 27/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Anh Tuấn

2/ Bà Nguyễn Thanh Thảo

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Hương Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Túy Giang là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hôm nay, ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2018/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: ĐỖ HOÀNG B; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/6/1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 204/1A N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 469 N, Phường 3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Thanh N và bà Võ Thị Nguyệt M; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2018;

2/ Họ và tên: TRẦN QUỐC C; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/11/1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 688/37 T, khu phố 6, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B13/2B C, tổ 7, ấp 2B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quốc H và bà Huỳnh Thị Ngọc O; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2018;

(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: anh Đào Minh P, sinh năm 1983;

Địa chỉ: 199A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Huỳnh Thị Ngọc O, sinh năm 1974 ngụ tại B13/2B C, tổ 7, ấp 2B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;

(có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 17/01/2018 Trần Quốc C chạy xe gắn máy biển số 51L3-6329 chở Đỗ Hoàng B, trên đường đi B rủ C cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài, C đồng ý. Khi đến ngã ba đường G – C, phường T, quận T thì B phát hiện anh Đào Minh P đang sử dụng điện thoại di động, B nói cho C biết. C liền chạy xe rẽ trái vào đường Cầu Xéo, áp sát vào bên trái xe anh P để cho B dùng tay trái giật điện thoại nhưng do anh P giữ chặt nên không giật được, B tiếp tục giật lần nữa nhưng không được nên kêu C tăng ga bỏ chạy. Anh P tri hô đuổi theo. C chở B chạy đến ngã ba L - Nthì bị ngã xe, cả hai bỏ xe chạy bộ đến 146E G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt giữ chuyển Công an phường Tân Quý, quận Tân Phú.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Hoàng B và Trần Quốc C đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng vụ án:

- Một (01) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S8 Plus màu đen, kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 09/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Phú trị giá 13.000.000 đồng đã trả lại cho người bị hại là anh Đào Minh P. Anh P không có yêu cầu gì thêm.

- Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 51L3-6329, C khai của mẹ là bà Huỳnh Thị Ngọc O mua. Bà O khai mua chiếc xe gắn máy trên của đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch) làm nghề sửa xe tại cửa hàng sửa xe (không rõ địa chỉ) trên đường T, phường B, quận B và để lại ở đây cho L sửa. Ngày 17/01/2018 C đến tiệm sửa xe của L lấy xe đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bà O không biết. Qua xác minh được biết chủ sở hữu là bà Lâm Tú P, ngụ tại số nhà 88 Ưu L, Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện P đã định cư ở Úc (bút lục số 83) nên Công an không làm việc được.

- Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung G360 màu trắng và một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu xám thu giữ của C. Tất cả vật chứng còn nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 71/LNK ngày 25/01/2018 của Cơ quan điều tra.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Hoàng B và Trần Quốc C đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đỗ Hoàng B và Trần Quốc C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đỗ Hoàng B, Trần Quốc C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đồng thời đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo điểm e Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Đào Minh P đã nhận lại tài sản và không có thắc mắc, yêu cầu gì nên không có gì để giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung G360 màu trắng và một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu xám thu giữ của C. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo C, không liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 51L3-6329 thu giữ của bị cáo C. Xét thấy chiếc xe có nguồn gốc không rõ ràng, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo Đỗ Hoàng B và Trần Quốc C nói lời sau cùng: các bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử một mức án nhẹ để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đỗ Hoàng B và Trần Quốc C đã có hành vi sử dụng xe gắn máy áp sát, tiếp cận tài sản rồi thực hiện cướp giật một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S8 plus trị giá 13.000.000 (mười ba triệu) đồng của anh Đào Minh P và nhanh chóng tẩu thoát đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật B hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong vụ án này, các bị cáo hai lần thực hiện hành vi cướp giật tài sản chứng tỏ các bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng thuộc trường hợp “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi lại trả cho người bị hại đầy đủ nên chưa gây ra thiệt hại, tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại là anh Đào Minh P vắng mặt nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy bị hại đã nhận lại tài sản và không còn có yêu cầu, thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không có gì phải giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Một (01) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 51L3-6329, C khai của mẹ là bà Huỳnh Thị Ngọc O mua. Tại phiên tòa, bà O khai mua chiếc xe gắn máy trên của cửa hàng sửa xe (không rõ địa chỉ) trên đường T, phường B, quận Bnhưng không có lập giấy tờ mua bán và để lại ở đây cho L sửa. Ngày 17/01/2018 C đến tiệm sửa xe của L lấy xe đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, bà O không biết. Qua xác minh được biết chủ sở hữu là bà Lâm Tú P, ngụ tại số nhà 88 Ưu L, Phường 11, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện P đã định cư ở Úc (bút lục số 83) nên Công an không làm việc được. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe có nguồn gốc không rõ ràng cần giao cho Chi cục thi hành án dân sự thông báo tìm chủ sở hữu trong một khoản thời gian nhất định, nếu quá thời hạn không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước.

- Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung G360 màu trắng và một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu xám thu giữ của C. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo C, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm h, s Khoản 1 Điều 51, điểm e Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Hoàng B, Trần Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt:

Đỗ Hoàng B 03 (ba) năm tù;

Trần Quốc C 03 (ba) năm tù;

Thời hạn tù của mỗi bị cáo được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/01/2018.

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo.

Trả lại cho bị cáo C một (01) điện thoại di động hiệu Samsung G360 màu trắng và một (01) điện thoại di động hiệu Samsung A8 màu xám.

Giao một xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 51L3-6329, số khung RLHHC09026Y525146, số máy HC09E-5040840 cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 tháng. Quá thời hạn trên nếu không có người đến nhận thì lập thủ tục sung quỹ Nhà nước theo quy định.

(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 71/PNK ngày 25/01/2018 của Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ