vanban.org

Bản án 78/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 20/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị M phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;

Xử phạt: Huỳnh Thị M 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Đồng thời, khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2018 đến ngày 15/6/2018 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 78/2018/HS-ST Tuyên án 20/11/2018
Phúc thẩm Bản án 42/2019/HS-PT Tuyên án 27/02/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vận chuyển hàng cấm (thuốc lá nhập lậu) - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị M phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 78/2018/HS-ST
Ngày 20/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Hiếu;

2. Ông Lưu Huỳnh Quang Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đại Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Tài, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2018/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị M, sinh ngày 22/02/1986 tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: tổ H, khóm V, phường N, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: mua bán; Trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Avà bà Nguyễn Thị L, có chồng và 02 con sinh năm 2010 và 2016; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2018 đến ngày 15/6/2018, bị cáo tại ngoại áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lôi Văn Đức – Văn phòng Luật sư Hùng Đ, thuộc đoàn Luật sư tỉnh An Giang, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường N, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, có mặt;

- Ông Hồ Dương Thế V, sinh năm 1988, nơi cư trú: số M, ấp B, xã Q, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt;

- Ông Hồ Phú D, sinh năm 1960, nơi cư trú: số M, ấp B, xã Q, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt;

- Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ 67, khóm Bình Đức 1, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt);

- Ông Nguyễn Xuân Đ(U), sinh năm 1974, nơi cư trú: tổ 10, ấp Thống, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ H, khóm V, phường N, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1982, vắng mặt;

- Ông Trần Thanh P, sinh năm 1968, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/6/2018, Công an thành phố Châu Đốc trên đường tuần tra phát hiện Huỳnh Thị M, Nguyễn Văn S và Hồ Dương Thế V đang sắp xếp các thùng giấy lên xe ô tô biển kiểm soát số 67C-050.62 (của ông Hồ Phú D đứng tên sở hữu) do V điều khiển xe đậu sẵn, thấy nghi vấn nên lực lượng công an tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong các thùng giấy cất giấu 7.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero, Jet, Scott nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS-CĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Huỳnh Thị M về tội “vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn S, Hồ Phú D, Hồ Dương Thế V và Nguyễn Văn H cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra, có yêu cầu được nhận lại tài sản đang bị cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm lưu thông trên thị trường nội địa, nhất là đối với thuốc lá điếu nhập lậu bị cấm kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển dưới mọi hình thức. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi, mức độ, hậu quả bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần lao động, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, chưa có tiền án, tiền sự, có cha là thương binh, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án nên cần xem xét khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 3 năm khấu trừ thời gian bị bắt tạm giam giữ từ ngày 07/6/2018 đến ngày 15/6/2018, thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành. Về hình phạt bổ sung, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Xuân Đ, chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với ông Hồ Phú D, Hồ Dương Thế V, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn S không biết việc bị cáo vận chuyển hàng cấm nên không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cần có trách nhiệm và chấp hành tốt hơn về chính sách pháp luật của Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 7.000 (bảy nghìn) bao thuốc lá nhập lậu; 01 (một) bìa sơ mi nhựa màu trắng, được niêm phong (bên trong gồm 03 quyển vở và 03 tờ giấy ghi chép những lần mua bán thuốc lá).

- Tịch thu sung quỹ: 01 (một) xe mô tô, loại Hayate, màu sơn đen, biển kiểm soát 67M7-4513 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số mang tên Nguyễn Thanh Q, do bị cáo quản lý, sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ máy màu hồng, Model J7 Prime;

- Giao trả cho ông Hồ Phú D 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 67C-050.62 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe;

- Giao trả cho ông Hồ Dương Thế V 01 (một) giấy phép lái xe hạng C2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ máy màu trắng, Model J7 Prime; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia;

- Giao trả cho ông Nguyễn Văn H 01 (một) thẻ ATM của DONGA Bank số 9704061587500985 mang tên Nguyễn Văn H;

- Giao trả cho bị cáo 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 352099756 mang tên Huỳnh Thị M;

- Giao trả cho ông Nguyễn Văn S 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel vỏ máy màu vàng; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 352028009 mang tên Nguyễn Văn S; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen xanh, số loại WAVE RSX, biển kiểm soát 67E1-268.63;

- Đối với một giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê ngày 21/5/2018 của Ngân hàng Đông Á, không có giá trị thanh toán nên đề nghị lưu giữ hồ sơ vụ án.

Tình hình tội phạm về buôn bán, vận chuyển hàng cấm có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước và ảnh hưởng đến công tác phòng chống gian lận thương mại về hàng gian, hàng giả, hàng nhập lậu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử có đề cập kiến nghị đến Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc, Công an thành phố Châu Đốc tăng cường biện pháp phòng ngừa, đấu tranh triệt để và nghiêm trị đối với các loại tội phạm này.

- Ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo - Luật sư Lôi Văn Đ: thống nhất với Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo về tội danh “vận chuyển hàng cấm”. Tuy nhiên, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số lượng thuốc lá điếu nhập lậu đã bị lực lượng Công an kịp thời thu giữ, chưa được tung ra thị trường nên hành vi của bị cáo có thể được xem xét thêm ở tình tiết phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, cha là thương binh 1/4, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi 02 con nhỏ bị bệnh, chồng sức khỏe yếu không có việc làm ổn định, bị cáo là động chính trong gia đình. Do đó, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã mang tính răn đe, giáo dục bị cáo và không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội. Do đó, đề nghị xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng,

Mặc dù, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Xuân Đ và người làm chứng ông Nguyễn Văn K, ông Trần Thanh P vẫn vắng mặt không rõ lý do, đối với ông Nguyễn Thanh Q có yêu cầu xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này.

Hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Châu Đốc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung vụ án, bị cáo khai nhận: Ngày 07/6/2018, Nguyễn Xuân Đ (U) điện thoại nhờ bị cáo mua dùm 7.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó có 2.000 bao hiệu Hero, 2.000 bao hiệu Scott, 3.000 bao hiệu Jet) vận chuyển bằng xe ô tô do V điều khiển về Tiền Giang để Đức bán lại kiếm lời. Bị cáo điện thoại cho người thanh niên tên Nghĩa (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đặt mua 7.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu với giá 97.500.000 đồng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, điện thoại của bị cáo báo tin nhắn trong tài khoản ngân hàng Đông Á mang tên Nguyễn Văn H (chồng của bị cáo) nhận được số tiền 81.000.000 đồng do Đức chuyển nên bị cáo đến nơi để thuốc lá điếu nhập lậu (thuộc khu vực khóm V, phường N, thành phố Châu Đốc) trả trước cho N1 81.000.000 đồng và dùng xe mô tô biển kiểm soát 67M7-4513 vận chuyển 7.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu đựng trong 14 thùng giấy được dán kín bằng bằng keo (mỗi lần chuyển 02 thùng) đến khu vực khu dân cư khóm T, phường H, thành phố Châu Đốc. Trong lúc đang sắp xếp các thùng giấy lên xe thì bị lực lượng công an phát hiện và bắt giữ.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/6/2018 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc lập.

Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng thu giữ là một xe ô tô biển kiểm soát 67C-050.62, một xe mô tô biển kiểm soát 67M7-4513 và 7.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu trong đó có 2.000 bao hiệu Hero, 2.000 bao hiệu Scott, 3.000 bao hiệu Jet.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi vận chuyển 7.000 bao thuốc lá ngoại nhập lậu, bao gồm các loại: Hero, Scott, Jet và bị bắt quả tang tại khu vực khu dân cư khóm T, phường H, thành phố Châu Đốc khi đang sắp xếp lên xe ôtô để vận chuyển về tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp lực nhưng vẫn cố ý thực hiện, qua việc thực hành hành vi vào buổi chiều tối, cất giấu vào bên trong các thùng giấy để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa, số lượng thuốc lá điếu nhập lậu mà bị cáo vận chuyển và bị thu giữ là 7.000 bao. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định khung tăng nặng “thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ Luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài lần vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu bị đưa ra xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo còn khai nhận từ khoảng tháng 02/2018 đến khi bị bắt quả tang ngày 07/6/2018, bị cáo đã mua thuốc lá điếu nhập lậu dùm ông Đ nhiều lần. Do bị cáo không xác định được cụ thể thời gian vận chuyển nên chưa có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo về những lần vận chuyển này.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, việc sử dụng thuốc lá có thể gây ra các bệnh tim mạch, các bệnh lý về phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Cho nên, Nhà nước đã độc quyền quản lý đối với thuốc lá điếu nhập lậu nhằm kiểm soát được lượng thuốc lá trên thị trường và có những chính sách thích hợp để hạn chế việc sử dụng thuốc lá, bảo vệ sức khỏe cho người dân.

Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, đáng lẻ phải cố gắng để tạo ra thu nhập chính đáng cho bản thân và gia đình nhưng vì hám lợi trước mắt mà đã dấn thân vào con đường phạm tội. Do đó, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo toàn bộ cách thức liên lạc, vận chuyển thuốc lá nhập lậu, đồng thời cung cấp thông tin về ông Đ, người thanh niên tên Nghĩa và những sổ sách ghi chép số lượng thuốc lá nhập lậu cùng những thông tin khác liên quan đến vụ án. Điều này cho thấy bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, bị cáo còn có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đang nuôi 02 con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và có cha là thương binh. Do đó, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thấy rằng, lượng thuốc lá tuy đã bị lực lượng chức năng kịp thời thu giữ, chưa phát tán ra thị trường nhưng hành vi vận chuyển thuốc lá lậu của bị cáo đã gây thất thoát nghiêm trọng trong việc thu thuế, ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia. Đồng thời, hành vi của bị cáo là vi phạm vào các tội xâm phạm trật tự kinh tế theo quy định của Bộ luật Hình sự, ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Từ lý lẽ nêu trên nên không có cơ sở xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và nhiều tình giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ thời gian để bị cáo cải tạo, sớm trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm của ông Nguyễn Xuân Đ(U): Bị cáo khai quen biết với ông Đ thông qua việc mua bán thùng giấy phế liệu. Từ khoảng tháng 02/2018 đến khi bị bắt quả tang ngày 07/6/2018, bị cáo đã mua thuốc lá điếu nhập lậu dùm ông Đ nhiều lần, mỗi lần mua ông Đ cho bị cáo 100.000 đồng – 500.000 đồng tùy vào số lượng, tổng số tiền bị cáo đã nhận từ ông Đ khoảng trên 3.000.000 đồng. Bị cáo còn cung cấp 03 quyển sổ và 03 tờ giấy ghi chép việc mua thuốc lá điếu nhập lậu cho ông Đ. Tuy nhiên, những quyển sổ này chỉ thể hiện số lượng và nhãn hiệu thuốc lá được ký hiệu trắng là nhãn hiệu Jet, xanh là nhãn hiệu Hero, đỏ là nhãn hiệu Scott, cùng tổng cộng số tiền của những loại thuốc lá nêu trên nhưng lại không có chữ ký, chữ viết xác nhận của ông Đ và không thể hiện được việc ông Đ trả tiền công cho bị cáo trong việc thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá nhập lậu.

Bên cạnh đó, căn cứ biên bản ghi lời khai của ông Đ ngày 26/7/2018, biên bản đối chất giữa bị cáo và ông Đ ngày 31/8/2018 do Cơ quan Cảnh sát điều tra lập, ông Đ khai vào ngày 07/6/2018 ông Đ có điện thoại cho bị cáo để đặt mua 500 thùng giấy phế liệu với số tiền khoảng 30.000.000 đồng và thuê V điều khiển xe ô tô đến Châu Đốc để vận chuyển về Tiền Giang. Ông Đ có chuyển vào tài khoản của Hậu (chồng bị cáo) số tiền 81.000.000 đồng nhưng mục đích để trả tiền mua giấy phế liệu cho bị cáo và nhờ trả dùm cho những chủ giấy khác. Do đó, ông Đ cho rằng không nhờ bị cáo mua dùm thuốc lá điếu nhập lậu và không biết việc bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu.

Theo trích lục bản sao kê chi tiết phát sinh đối với tài khoản Ngân hàng Đông Á mang tên Nguyễn Văn H thể hiện từ ngày 02/01/2018 đến ngày 07/6/2018, ông Đ có chuyển tiền vào tài khoản này nhiều lần nhưng không thể hiện được vào ngày 07/6/2018 ông Đ có chuyển một lần với số tiền 81.000.000 đồng. Đồng thời, những người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan khác là ông V, ông S, ông H không biết việc bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cũng như không biết giữa bị cáo với ông Đ có mối quan hệ trong việc mua bán, vận chuyển thuốc lá nhập lậu hay không.

Từ những căn cứ trên, không đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Đ.

Về trách nhiệm của ông Hồ Dương Thế V, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H: Căn cứ các biên bản ghi lời khai của bị cáo, biên bản ghi lời khai của V, S, H do Cơ quan Cảnh sát điều tra lập, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện mặc dù V là người điều khiển xe ôtô đậu sẵn và S là người cùng với bị cáo sắp xếp những thùng giấy chứa thuốc lá điếu nhập lậu lên xe ô tô nhưng việc bên trong những thùng giấy có chứa thuốc lá điếu nhập lậu thì V và Sinh hoàn toàn không biết. Đối với Hậu có giao tài khoản Ngân hàng Đông Á cho bị cáo quản lý, đồng thời vào ngày 07/6/2018, H có đi rút 40.000.000 đồng cho bị cáo nhưng không biết việc bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Do đó, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V, S và H là phù hợp với quy định pháp luật.

Về trách nhiệm của người thanh niên tên N mà bị cáo khai đã mua thuốc lá nhập lậu của N, theo biên bản xác minh ngày 28/8/2018 do Cơ quan cảnh sát điều tra lập được Công an phường N, thành phố Châu Đốc cho biết do bị cáo không cung cấp rõ đặc điểm nhận dạng về ngoại hình, họ tên, địa chỉ cụ thể của N nên công an phường không thể triệu tập N để làm việc. Do đó, cơ quan chức năng sẽ điều tra, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với số lượng 7.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu bị thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Đối với 01 (một) bìa sơ mi nhựa màu trắng, được niêm phong (bên trong gồm 03 quyển vở và 03 tờ giấy ghi chép những lần mua bán thuốc lá), không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê ngày 21/5/2018 của Ngân hàng Đông Á, không còn giá trị thanh toán nên lưu hồ sơ vụ án;

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển nhãn hiệu Suzuki, màu sơn đen, số loại Hayate, biển kiểm soát 67M7-4513, số máy 100085, số khung 070100085; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023561 mang tên Nguyễn Thanh Q, xe mô tô do bị cáo mua lại nhưng chưa sang tên, bị cáo dùng để vận chuyển thuốc lá nhập lậu; một (01) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ máy màu hồng, Model J7 Prime, số IMEL 352810/09/853331/4, số IMEL 352811/09/853331/2 bị cáo dùng để liên lạc, trao đổi việc vận chuyển thuốc lá nhập lậu là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Đối với 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 67C-050.62 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 67C-050.62 mang tên Hồ Phú D và 01 một giấy chứng nhận kiểm định số 4385153, đây là tài sản thuộc sở hữu của ông D. Mặc dù, xe do V (con ông D) điều khiển và bị thu giữ trong lúc bị cáo sắp xếp các thùng giấy chứa thuốc lá điếu nhập lậu lên xe nhưng qua lời khai của bị cáo, ông Đ, ông D, ông V cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện mục đích V điều khiển xe đến Châu Đốc là để vận chuyển thuê cho ông Đ 500 thùng giấy phế liệu về Tiền Giang, được trả tiền công là 1.000.000 đồng. Việc bị cáo cất giấu thuốc lá điếu nhập lậu bên trong 14 thùng giấy và sắp xếp cùng với số lượng lớn các thùng giấy phế liệu khác nên việc V không biết trong số các thùng giấy có chứa thuốc lá điếu nhập lậu là có cơ sở. Do đó, xe ô tô nêu trên không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên giao trả lại xe ô tô tải biển kiểm soát 67C-050.62 cùng các giấy tờ đăng ký sở hữu xe lại cho ông D.

- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng C2, số 0890136014938 tên Hồ Dương Thế V; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ máy màu trắng, Model J7 Prime số IMEI: 353415/08/381408/0; số IMEI: 353416/08/381408/8 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia thân máy màu đỏ, bàn phím màu xanh dương đã qua sử dụng của Hồ Dương Thế V. Đây là tài tài sản cá nhân của ông V, không sử dụng vào việc phạm tội nên giao trả lại cho ông V;

- Đối với 01 (một) thẻ ATM của DONGA Bank số 9704061587500985 mang tên Nguyễn Văn H, đây là thẻ tín dụng do Ngân hàng Đông Á cấp cho ông H, thuộc quyền quản lý và sử dụng của ông H nên giao trả lại cho ông H;

- Đối với 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 352099756 mang tên Huỳnh Thị M, đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên giao trả cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel vỏ máy màu vàng, số IMEI: 355868061865631, số IMEI: 355868062023131 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 352028009 mang tên Nguyễn Văn S; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen xanh, số loại WAVE RSX, biển kiểm soát 67E1-268.63, không sử dụng vào việc phạm tội nên giao trả cho ông Nguyễn Văn S.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Đối với ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát để khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm thì Hội đồng xét xử ghi nhận và sẽ có văn bản kiến nghị riêng như theo quy định tại Điều 264 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị M phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”;

Xử phạt: Huỳnh Thị M 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Đồng thời, khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2018 đến ngày 15/6/2018 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, các điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 7.000 (bảy nghìn) bao thuốc lá nhập lậu trong đó có 2.000 (hai nghìn) bao hiệu Hero, 2.000 (hai nghìn) bao hiệu Scott và 3.000 (ba nghìn) bao hiệu Jet; Đối với 01 (một) bìa sơ mi nhựa màu trắng, được niêm phong (bên trong gồm 03 quyển vở và 03 tờ giấy ghi chép những lần mua bán thuốc lá);

- Đối với một giấy lĩnh tiền kiêm bảng kê ngày 21/5/2018 của Ngân hàng Đông Á, không còn giá trị thanh toán nên lưu hồ sơ vụ án;

- Tịch thu sung quỹ: 01 (một) xe mô tô biển nhãn hiệu Suzuki, màu sơn đen, số loại Hayate, biển kiểm soát 67M7-4513, số máy 100085, số khung 070100085; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023561 mang tên Nguyễn Thanh Q; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ máy màu hồng, Model J7 Prime, số IMEL 352810/09/853331/4, số IMEL 352811/09/853331/2;

- Giao trả cho ông Hồ Phú D 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 67C-050.62 cùng 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 67C-050.62 mang tên Hồ Phú D và 01 một giấy chứng nhận kiểm định số 4385153;

- Giao trả cho ông Hồ Dương Thế V 01 (một) giấy phép lái xe hạng C2, số 0890136014938 tên Hồ Dương Thế V; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung vỏ máy màu trắng, Model J7 Prime số IMEI: 353415/08/381408/0; số IMEI: 353416/08/381408/8 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia thân máy màu đỏ, bàn phím màu xanh dương đã qua sử dụng.

- Giao trả cho ông Nguyễn Văn H 01 (một) thẻ ATM của DONGA Bank số 9704061587500985 mang tên Nguyễn Văn H;

- Giao trả cho bị cáo 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 352099756 mang tên Huỳnh Thị M;

- Giao trả cho ông Nguyễn Văn S 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel vỏ máy màu vàng, số IMEI: 355868061865631, số IMEI: 355868062023131 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 352028009 mang tên Nguyễn Văn S; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen xanh, số loại WAVE RSX, biển kiểm soát 67E1-268.63.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/9/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Huỳnh Thị M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hìnhsự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, ông Hồ Phú D, ông Hồ Dương Thế V, ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn H, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân Đ, ông Nguyễn Thanh Q là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ