- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức H. Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2018/HS-PT Ngày: 19-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Hiệp
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Kim Đồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 106/2018/TLPT-HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Đức H, do kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đối với Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Phạm Đức H (tên gọi khác: B), sinh năm 1997, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T, sinh năm 1974 và con bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1980; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 12/12/2017, Phạm Đức H, Nguyễn Đỗ Minh Ng, Nguyễn Đức A, Phạm Qúy Tr, Ninh Văn H1 đang ăn khuya tại quán hủ tiếu của chị Mai Thị Kim Y tại tổ dân phố 11, thị trấn CT thì gặp nhóm của anh Đỗ Đức Kh, Nguyễn Văn Ph, Trần Văn T, Ngô Thị K (S) và 01 người tên L cũng đến ăn tại đây. Do lúc này, chị Y không có mặt ở quán nên nhóm của Kh ngồi đợi, trong lúc đợi Ph lấy mì tôm của quán chọc mọi người là mang về nhà chế ăn rồi Ph bỏ mì tôm lại chỗ cũ và cùng nhóm mình ra về. Khi về L và T đi trước, Ph điều khiển xe của S đi loạng choạng làm xe ngã gần xe của Ng đang dựng ở lòng đường. Ng đứng dậy chửi Ph, Ph xin lỗi rồi chạy xe về hướng ngã ba lương thực. Lúc này, Đức A đi tới chỗ Kh và nói “Chúng mày đến đây phá quán à, mày đủ tư cách gì mà làm vậy” rồi xông vào nắm cổ áo Kh, Kh dùng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đập vào đầu Đức A 01 cái làm Đức A quỵ xuống đất. Lúc này, Phạm Đức H đang ở bàn bán hủ tiếu thấy Đức A bị đánh H liền cầm con dao thái thịt chạy đến chém khoảng 04 nhát vào lưng Khiêm, Ng và Đức A cũng lao vào dùng tay, chân và ghế nhựa đánh nhiều cái vào người Kh. Sau đó chị Y về lại quán giằng lấy con dao từ tay H, H tiếp tục chạy đi lấy 01 thanh kim loại dùng để chống dù vụt 01 nhát vào người Kh, Kh đưa tay lên đỡ thì trúng vào khuỷa tay trái, H tiếp tục vụt thêm 01 nhát nữa sượt qua trán Kh gây chảy máu. Lúc này, Ph và T quay lại, thấy lưng Kh bị chảy nhiều máu nên T chở Kh đi Trung tâm y tế điều trị vết thương. H tiếp tục đuổi đánh Ph sau khi không đuổi kịp Ph thì H bỏ về và vứt thanh kim loại dọc đường.
Vật chứng vụ án gồm: 01 con dao phay, cán gỗ, mũi tù dài 34 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 22 cm, bản lưỡi rộng 0,5cm; Đối với 01 thanh kim loại dài khoảng 60 cm, kích thước khoảng 02cm x 02 cm, H khai vứt ở dọc đường Phạm Văn Đồng, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tại bản kết luận số 03 ngày 31/01/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lâm Đồng kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Đỗ Đức Kh là 17% do vật sắc gây nên.
Tại Bản án số 15/2018/HS-ST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên; tuyên bố bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Ngoài ra, Bản án còn giải quyết vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Tại Quyết định số 112/QĐ-VKS-P7 ngày 14/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị đề nghị áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Đức H nhằm đảm bảo việc tuyên mức hình phạt đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung Bản án sơ thẩm, không thắc mắc về nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa Bản án sơ thẩm, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự nhằm đảm bảo việc tuyên hình phạt đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Phạm Đức H khai nhận: khi đang ngồi ăn khuya ở bàn bán hủ tiếu thấy Đức A bị Kh đánh thì H liền cầm con dao thái thịt chạy đến chém khoảng 04 nhát vào lưng Kh, Hậu quả anh Đỗ Đức Kh bị tổn thương với tỷ lệ thương tật là 17% nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Đức H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thấy rằng: Bị cáo Phạm Đức H có hành vi dùng dao gây thương tích cho anh Kh với tỷ lệ thương tật là 17%. Bị cáo bị tòa sơ thẩm xử phạt theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, mức khởi điểm của khung hình phạt là 02 năm tù; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 15 tháng tù cho hưởng án treo là Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng khi tuyên án lại không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự là không đúng quy định. Vì vậy, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa Bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về án phí: Vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sửa Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Đức H cho Ủy ban nhân dân thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án sẽ được thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phạm Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT(I) – TANDTC; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - TAND, VKSND cấp sơ thẩm; - Công an huyện Cát Tiên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Huỳnh Văn Hiệp |