- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2018/HNGĐ-ST Ngày 11-12-2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thành;
Bà Trần Vĩnh Hạnh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 300/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 545/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1993
Địa chỉ thường trú: phường L, quận B, thành phố C. Địa chỉ liên lạc: ấp P, xã T, huyện N, tỉnh V.
2.Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ thường trú: phường L, quận B, thành phố C
Nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn 09/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Bà và ông T tự nguyện sống với nhau vào năm 2007 nhưng đến ngày 23/3/2011 ông bà mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố C. Ông bà chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T ham mê rượu chè, không lo cho cuộc sống của vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn, thường xuyên cãi vã nên tình cảm vợ chồng không còn. Bà D và ông T đã sống ly thân nhau từ tháng 9/2015 đến nay. Bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có hai con chung tên Lê Thị N(nữ), sinh ngày 05/8/2008 và Lê Thị Q(nữ), sinh ngày 24/12/2011. Theo đơn xin ly hôn ngày 09/7/2018 bà nhường quyền nuôi dưỡng hai con cho ông T nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà Thi thay đổi ý kiến trên, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Văn T, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi nên vụ án không hòa giải được. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên toà hôm nay: Nguyên đơn bà D giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông T. Về con chung, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Bị đơn ông T vắng mặt.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Về quan điểm giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà D. Chấp nhận giao hai con chưa thành niên cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D không yêu cầu bị đơn ông T cấp dưỡng nuôi con cũng như không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn T có địa chỉ: phường L, quận B, thành phố C. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn ông Lê Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T cố tình vắng mặt nên Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 179, Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T tự nguyện sống với nhau vào năm 2007 nhưng đến ngày 23/3/2011 ông bà mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố C. Hôn nhân của bà D và ông T là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận.
Cuộc sống hôn nhân giữa bà D và ông T hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T ham mê rượu chè, không lo cho cuộc sống của vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng lớn, thường xuyên cãi vã nên tình cảm vợ chồng không còn. Bà D và ông T đã sống ly thân nhau từ tháng 9/2015 đến nay. Tại phiên tòa bà D trình bày từ năm 2015 đến nay bà và ông T không còn liên lạc, mỗi người có cuộc sống riêng nên không thể hàn gắn, đoàn tụ được nữa. Bà D không còn tình cảm với ông T nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết được ly hôn với ông T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông T nhưng ông T vắng mặt và không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của bà D. Điều này chứng tỏ bị đơn ông T không có thiện chí để đoàn tụ gia đình với bà D.
Từ những lý do trên cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà D và ông T đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà D yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở, phù hợp với căn cứ cho ly hôn tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Lê Thị N(nữ), sinh ngày 05/8/2008 và Lê Thị Q(nữ), sinh ngày 24/12/2011. Hiện hai con chung đang sinh sống cùng bà D. Tại phiên tòa bà yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Tại bản tự khai của Lê Thị N ghi nhận nguyện vọng của N là sau khi cha mẹ ly hôn được tiếp tục sống với bà D. Riêng Lê Thị Q đến thời điểm xét xử Q vẫn chưa đủ 07 tuổi nên không ghi nhận ý kiến của Q.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay N và Q do bà D chăm sóc, nuôi dưỡng và để tạo điều kiện các con phát triển tốt nhất từ mối quan hệ gắn bó chị em giữa N và Q đồng thời xem xét nguyện vọng của N. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông T không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về Tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do bị đơn ông T vắng mặt nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án độc lập để yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp.
Về án phi sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn bà D
́ được Tòa án chấp nhận nên bà D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị D ly hôn với ông Lê Văn T.
2.Về con chung: Giao hai con chung tên Lê Thị N(nữ), sinh ngày 05/8/2008 và Lê Thị Q(nữ), sinh ngày 24/12/2011 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà D không yêu cầu.
Ông T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án độc lập để yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp.
4.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn)đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà D đã nộp là 300.000(Ba trăm nghìn)đồng theo biên lai thu số 009284 ngày 09/7/2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Bà Thi đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. *Nơi nhận
| -Viện kiểm sát ND quận Bình Thủy; -Chi cục THA DS quận Bình Thủy; -UBND phường L (nơi đăng ký kết hôn); -Đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Thùy Hƣơng |