- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị H. Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Võ Hoàng L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2018/HNGD-ST Ngày: 21/9/2018 V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Châu Văn Sang
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lƣơng Thị Kim Vân
Bà Võ Thị Điệp
- Thư ký phiên toà: bà Lê Thanh Mai– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý 344/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 152/2018/QĐHPT-HNGD, ngày 23/8/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Phạm Thị H,
sinh năm: 1985
Địa chỉ: số 450, ấp 1, xã A, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.
- Bị đơn:
Võ Hoàng L,
sinh năm: 1983.
Địa chỉ: số 450, ấp 1, xã A, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp
( Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 18/5/2018 và lời trình bày của bà Phạm Thị H có nội dung:
Về hôn nhân: bà và ông L kết hôn vào năm 2003, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ngày 21/12/2013. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Năm 2015, ông L nghĩ dạy về nhà, không chăm lo làm ăn để phụ giúp gia đình mà chỉ ngồi đọc truyện. Dù bà H và gia đình đã khuyên ngăn nhưng ông L không thay đổi nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm gia đình. Bà H phải gánh vác kinh tế gia đình. Hiện nay, bà H đã không còn tình cảm với ông L nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Võ Hoàng L.
Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, ông bà có 01 con chung tên là Võ Minh N, sinh ngày 08/11/2013. Hiện nay, con chung Võ Minh N đang sống với ông bà. Khi ly hôn, bà Phạm Thị H yêu cầu được tiêp tục nuôi con chung không yêu cầu ông Võ Hoàng L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: ông bà không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Tại văn bản ý kiến ngày 22/6/2018, ông Võ Hoàng L trình bày: ông đồng ý ly hôn với bà Phạm Thị H. Về con chung, ông bà có 01 con chung tên là Võ Minh N, sinh ngày 08/11/2013. Hiện nay, con chung Võ Minh N đang sống với bà H. Khi ly hôn ông đồng ý để bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông L không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ: ông bà không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, nuôi con địa chỉ của bị đơn anh Võ Hoàng L tại huyện Cao Lãnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: bà Phạm Thị H và ông Võ Hoàng L kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/12/2013. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng sau đó, ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng bắt nguồn từ việc ông Minh không chăm lo cho gia đình. Bà H đã cố gắng nhưng không thể hàn gắn và ông L không thay đổi dẩn đền tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt dược nên bà Phạm Thị H yêu cầu được ly hôn, ông Võ Hoàng L có ý kiến trong văn bản ngày 22/6/2018 đồng ý ly hôn thấy phù hợp nên chấp nhận.
Về con chung: thời gian sống chung ông, bà có một con chung tên Võ Minh N, sinh ngày 08/11/2013, hiện nay con chung đang sống với bà H và bà H có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Bằng văn bản 22/6/2018, ông L đồng ý để con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng thấy phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà H. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà Phạm Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bên không nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung và nợ chung: ông L và bà H đều xác định không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Võ Hoàng L không phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị H. Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Võ Hoàng L.
Về con chung: bà Phạm Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Võ Minh N, sinh ngày 08/11/2013. Ông Võ Hoàng L không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà H không yêu cầu.
Ông Võ Hoàng L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000247 ngày 01 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vây, bà H đã nộp xong tiền án phí.
Ông Võ Hoàng L không phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Bà Phạm Thị H và ông Võ Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND HCL; - TAND tỉnh; - Chi cục THADS HCL; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Văn Sang |