vanban.org

Bản án 78/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 09/11/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Hồ Kim V trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ nợ gốc 5.115.077đ (năm triệu một trăm mười lăm ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng), nợ lãi trong hạn 392.308đ (ba trăm chín mươi hai ngàn ba trăm lẻ tám đồng), nợ lãi quá hạn 745.674đ (bảy trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bảy mươi bốn đồng), tổng cộn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2018/DS-ST
Ngày: 09 - 11 - 2018
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Phụng

Ông Phạm Văn Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long: Bà Huỳnh Thị Yến Nhi - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2018/TLST-DS ngày 23/8/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 829/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ

Địa chỉ trụ sở: số M, đường P, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Minh T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Tổng Giám đốc. Ông T ủy quyền ông Trương Quang D, chức vụ: Giám đốc chi nhánh Vĩnh Long. Ông D ủy quyền ông Võ Thành A, cán bộ tín dụng, địa chỉ liên hệ: số S, đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Hồ Kim V, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp L1, xã L2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2018 và quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đây viết tắt: Ngân hàng Đ) trình bày:

Ngày 15/6/2017, Ngân hàng Đ và bà Hồ Kim V xác lập với nhau Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00502533.0119635201T17013 số tiền vay 7.000.000đ, lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn 18%/năm, mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay 48 tuần (từ ngày 15/6/2017 đến ngày 17/5/2018), biện pháp bảo đảm: tín chấp. Bà V đã nhận số tiền vay 7.000.000đ, trả tổng cộng vốn, lãi 2.268.000đ (vốn 1.884.923đ, lãi 383.077đ). Do bà V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ ngày 22/6/2017, Ngân hàng Đ chuyển toàn bộ nợ vay sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/7/2018, bà V nợ Ngân hàng Đ với nợ gốc 5.115.077đ, lãi trong hạn 392.308đ, lãi quá hạn 483.177đ, tổng cộng nợ gốc và lãi: 5.990.562đ. Ngân hàng Đ khởi kiện yêu cầu bà V trả Ngân hàng Đ tổng cộng nợ gốc và lãi tính đến ngày 30/7/2018: 5.990.562đ và bà V tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ.

Đối với bị đơn Hồ Kim V: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, Tòa án không nhận văn bản trình bày ý kiến của bà V gửi Tòa án. Tòa án cũng không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được do bà V vắng mặt hai lần, không rõ lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Ngày 09/11/2018, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà V trả nợ vốn 5.115.077đ, nợ lãi tính đến ngày 09/11/2018 là 1.137.982đ (lãi trong hạn 392.308đ, lãi quá hạn 745.674đ), tổng cộng vốn và lãi: 6.253.059đ. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Đ khởi kiện bà Hồ Kim V tranh chấp hợp đồng tín dụng vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm là có quyền khởi kiện. Nguyên đơn, bị đơn thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp ngày 15/6/2017 chọn Tòa án nơi chi nhánh Ngân hàng Đ đặt trụ sở giao dịch để giải quyết nếu phát sinh tranh chấp nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bà V vắng mặt, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xác định thủ tục tố tụng trong vụ án đảm bảo quy định tại các Điều 26, 39, 186, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp ngày 15/6/2017 giữa Ngân hàng Đ và bà Hồ Kim V được hai bên xác lập tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật với số tiền cho vay trả góp là 7.000.000đ. Bà V nhận đủ tiền vay, thanh toán Ngân hàng Đ vốn 1.884.923đ, lãi 383.077đ, tổng cộng 2.268.000đ. Tính đến ngày 09/11/2018, bà V nợ Ngân hàng Đ với nợ gốc 5.115.077đ, nợ lãi trong hạn 392.308đ, nợ lãi quá hạn 745.674đ, tổng cộng nợ gốc và lãi: 6.253.059đ. Quá trình tiến hành tố tụng, bà V không cung cấp văn bản trình bày ý kiến phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu do nguyên đơn đưa ra, dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ lời trình bày cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ, buộc bà V trả Ngân hàng Đ tổng cộng nợ gốc, lãi tính đến ngày 09/11/2018 là 6.253.059đ. Bà V tiếp tục trả lãi phát sinh từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ.

Án phí: Buộc bà Hồ Kim V nộp 312.600đ án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long là có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 186, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Hồ Kim V trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ nợ gốc 5.115.077đ (năm triệu một trăm mười lăm ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng), nợ lãi trong hạn 392.308đ (ba trăm chín mươi hai ngàn ba trăm lẻ tám đồng), nợ lãi quá hạn 745.674đ (bảy trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bảy mươi bốn đồng), tổng cộng nợ gốc và lãi: 6.253.059đ (sáu triệu hai trăm năm mươi ba ngàn không trăm năm mươi chín đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí: Buộc bà Hồ Kim V nộp 312.600đ (ba trăm mười hai ngàn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số No 0003896 ngày 14/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ