vanban.org

Bản án 78/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Th 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ Th-Lăm Văn Ch-Phạm Văn Đ - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 74 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2017/HSST
Ngày: 06-6-2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Sỹ An Quốc- Cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Bến Cát;

2. Ông Phạm Thanh Bình- Bí thư Đoàn phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2017/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2017, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Vũ Th (tên gọi khác: Kh), sinh ngày 19/11/1997 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 19 tuổi 11 tháng 22 ngày), tại tỉnh Cà Mau; ĐKTT: ấp Chà Là, xã Tr Ph, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1978 và bà Trần Thị B, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 25/11/2016 bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay; có mặt.

2. Họ và tên: Lăm Văn Ch, sinh ngày 28/02/2000 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 08 tháng 21 ngày), tại tỉnh Bạc Liêu; ĐKTT: ấp Xóm Mới, xã T Th, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lăm Văn M, sinh năm 1969 và bà Võ Thị Ngọc B, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 26/11/2016 bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay; có mặt.

3. Họ và tên: Phạm Văn Đ, sinh ngày 27/6/2001 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 15 tuổi 04 tháng 14 ngày), tại tỉnh Cà Mau; ĐKTT: ấp Vàm Đầm, xã Ng H, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Thành V, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lăm Văn Ch:

1. Ông Lăm Văn M, sinh năm 1969- có mặt;

2. Bà Võ Thị Ngọc B, sinh năm 1970- có mặt.

Cùng trú tại: Khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn Đ:

1. Ông Phạm Thành V, sinh năm 1981- vắng mặt;

2. Bà Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1981- có mặt.

Cùng trú tại: Khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Người bào chữa cho bị cáo Lăm Văn Ch và bị cáo Phạm Văn Đ: Luật sư Phạm Thị Mỹ D–Công ty Luật BCM, thuộc đoàn luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người bị hại:

1. Bà Mai Thị Ng, sinh năm 1978; trú tại: Khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương- vắng mặt;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Nh, sinh năm 1995; trú tại: Ấp Cây Điều, xã B H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Đường D7-N4, khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương- vắng mặt;

3. Bà Bùi Thị Th, sinh năm 1996; HKTT: Thôn An Phụ, xã Đ T, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; tạm trú: Nhà trọ Tâm Như, đường D7, khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương- vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Minh Đ, sinh ngày 16/06/2003; HKTT: Ấp Thới Trung A, xã Th Đ, huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ; tạm trú: khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Trần Minh Đ:

- Ông Trần Văn T, sinh năm 1980- vắng mặt

- Bà Trần Thanh Th, sinh năm 1985- có mặt

Cùng trú tại: Khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

2. Ông Lăm Văn M, sinh năm 1969; trú tại: Khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3. Bà Phạm Thị Thùy Ng, sinh năm 1987; trú tại: Khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Vũ Th và đồng bọn bị Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Th, Ch, Đ và Trần Minh Đ là bạn bè với nhau. Do không có tiền tiêu xài nên Th rủ Ch, Đ và Đ cướp giật tài sản của người khác bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 25/11/2016, Th và Ch đang chơi game tại tiệm internet Bảo Vy thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Th rủ Ch đi giật điện thoại di động bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Ch đồng ý. Th điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 69F1-317.24 chở Ch ngồi phía sau đi tìm người khác có điện thoại di động để giật. Khi đi đến khu vực đường D10 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Th phát hiện chị Nguyễn Thị Ngọc Nh đang đi bộ ngược chiều trên tay cầm điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J3 màu trắng nên nói cho Ch biết. Lúc này, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chạy vòng lại phía sau và áp sát phía bên trái của chị Nh cho Ch ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy điện thoại SamSung Galaxy J3 màu trắng của chị Nh rồi Th tăng ga bỏ chạy. Chị Nh truy hô “cướp, cướp” được anh Hồ Minh T đang đứng gần đó nghe thấy nên điều khiển xe mô tô đuổi theo Th và Ch. Khi đến đường D2 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì anh T chặn đầu xe mô tô biển số 69F1-317.24 bắt giữ Th còn Ch bỏ chạy bộ. Anh T đưa Th đến Công an phường M P để làm việc. Tại đây, Công an phường M P tiến hành thu giữ xe mô tô biển số 69F1-317.24; 01 điện thoại di động hiệu Vinaphone màu trắng và số tiền 251.000 đồng.

Ngày 26/11/2016, Công an phường M P tiến hành bắt giữ Lăm Văn Ch tại quán nước không tên thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và thu giữ tang vật: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy J3 màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A33W (Oppo Neo 7) màu trắng và số tiền 1.110.000 đồng. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Công an thị xã Bến Cát xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Nguyễn Vũ Th và Lăm Văn Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 22/11/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: 01 (một) điện thoại di động Sam Sung Galaxy J3 màu trắng trị giá 3.500.000 đồng.

Ngày 15/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra quyết định xử lý vật chứng trao trả điện thoại di động SamSung Galaxy J3 màu trắng cho chị Nguyễn Thị Ngọc Nh.

Ngoài lần cướp giật tài sản bị bắt quả tang, Th và Ch còn thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản khác cùng với Phạm Văn Đ và Trần Minh Đ. Sau khi cướp giật được điện thoại Th và Ch mang đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng ở khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương lấy tiền chia nhau tiêu xài. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Nguyễn Vũ Th và Lăm Văn Ch thực hiện.

Khoảng 21 giờ ngày 19/11/2016, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Ch đi từ Thành phố Mới Bình Dương về đến thị xã Bến Cát. Khi đi đến khu vực đường DE3 thuộc khu phố 3B, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Th phát hiện 02 người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Max (không rõ biển số), người ngồi phía sau đang sử dụng điện thoại di động hiệu Vinaphone. Lúc này, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 áp sát người phụ nữ này cho Ch ngồi sau dùng tay phải giật được điện thoại Vinaphone. Sau khi giật được, Th lấy điện thoại Vinaphone để sử dụng. Đến khi bị bắt ngày 25/11/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã thu giữ.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: điện thoại di động Vinaphone trị giá 1.500.000 đồng.

Vụ thứ hai : Nguyễn Vũ Th và Lăm Văn Ch thực hiện.

Khoảng 21 giờ ngày 20/11/2016, Th và Ch đang chơi game tại tiệm Internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Th rủ Ch đi giật điện thoại di động bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Ch đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Ch đi đến đường N1- D10 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Th và Ch phát hiện người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) chạy xe đạp điện trên tay cầm 01 điện thoại di động hiệu Hkphone Revo màu đen. Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 áp sát bên trái người phụ nữ cho Ch ngồi sau dùng tay phải giật được điện thoại Hkphone Revo màu đen. Sau đó, Th và Ch mang điện thoại Hkphone Revo đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 350.000 đồng. Tiền có được, cả hai chơi game hết.

Ngày 26/11/2016, chị Phạm Thị Thùy Ng tự nguyện giao nộp lại điện thoại Hkphone Revo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: điện thoại di động Hkphone Revo trị giá 1.200.000 đồng.

Vụ thứ ba: Nguyễn Vũ Th và Phạm Văn Đ thực hiện:

Khoảng 18 giờ ngày 10/11/2016, Đ đến phòng trọ của Th thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương chơi. Th nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ thực hiện, Đ đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ đến đường DB4 thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện em Phạm Tấn Tr (sinh năm: 2006, hộ khẩu thường trú: khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, Bình Dương) là con của chị Mai Thị Ng đang cầm điện thoại di động hiệu Oppo Neo 3 ngồi chơi trên ghế đá trước nhà, còn chị Ng đang đứng trong tiệm tạp hóa. Lúc này, Th dừng xe cách chị Ng khoảng 20 m cho Đ giả vờ vào tiệm tạp hóa của chị Ng mua thuốc lá. Lợi dụng lúc chị Ng tìm tiền thối, Đ đến giật điện thoại Oppo Neo 3 của cháu Tr rồi lên xe cho Th chạy thoát. Cả hai mang điện thoại di động Oppo Neo 3 đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 500.000 đồng, chia nhau tiêu xài. Điện thoại này, chị Ng đã bán lại cho người khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: điện thoại di động hiệu Oppo Neo 3 trị giá 2.450.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Chị Mai Thị Ng yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường trị giá tài sản đã chiếm đoạt (điện thoại Oppo neo 3) theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ tƣ: Nguyễn Vũ Th và Phạm Văn Đ thực hiện:

Khoảng 18 giờ, tháng 11/2016, Th và Đ đang chơi game tại tiệm Internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Th nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ thực hiện. Đ đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ đến đường D4 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện một người phụ nữ (không xác định nhân thân, lai lịch) đang đi bộ đeo tai phone nghe nhạc còn điện thoại di động hiệu Oppo A33W (Oppo Neo 7) bỏ trong túi quần phía sau. Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 áp sát bên trái người phụ nữ cho Đ ngồi sau dùng tay phải giật được điện thoại Oppo A33W (Oppo Neo 7) rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi giật được điện thoại, Th và Đ mang điện thoại Oppo A33W (Oppo Neo 7) đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 1.500.000 đồng. Th chia cho Đ 500.000 đồng, Th 500.000 đồng. Số tiền còn lại cả hai uống rượu hết.

Ngày 26/11/2016, chị Phạm Thị Thùy Ng tự nguyện giao nộp lại điện thoại Oppo A33W (Oppo Neo 7) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A33W (Oppo Neo 7) trị giá: 1.900.000 đồng.

Vụ thứ năm: Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ thực hiện:

Khoảng 21 giờ ngày 18/11/2016, Ch và Đ đang chơi game tại tiệm Internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ch nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ thực hiện. Đ đồng ý. Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến khu vực vòng xoay khu công nghiệp Mỹ Phước 2 thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện một thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Novo (không rõ biển số) phía sau chở một phụ nữ (không xác định nhân thân, lai lịch) đang sử dụng điện thoại Oppo Neo 7. Lập tức, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 từ phía sau áp sát bên trái xe của người thanh niên cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại Oppo Neo 7 của người phụ nữ này rồi Ch tăng ga tẩu thoát. Sau khi cướp giật được điện thoại Oppo Neo 7, Ch sử dụng làm phương tiện liên lạc cá nhân đến khi bị bắt ngày 25/11/2016 bị Công an thu giữ.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 trị giá: 1.900.000 đồng.

Vụ thứ sáu: Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ thực hiện:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/11/2016, Ch và Đ đang chơi game tại tiệm internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ch nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ thực hiện. Đ đồng ý. Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến đường D10 – N1 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện chị Bùi Thị Th ngồi phía sau xe đạp điện trên tay cầm điện thoại di động SamSung Galaxy J7. Lúc này, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 áp sát phía bên trái cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại di động SamSung Galaxy J7 của chị Th rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang điện thoại SamSung J7 đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 2.700.000 đồng. Điện thoại này, chị Phạm Thị Thùy Ng đã bán lại cho người khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J7 trị giá 4.950.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Thị Th không yêu cầu Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ phải bồi thường giá trị tài sản đã chiếm đoạt của chị Th.

Vụ thứ bảy: Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ thực hiện:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/11/2016, Ch và Đ đang chơi game tại tiệm internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ch nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ thực hiện. Đ đồng ý. Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ tìm điện thoại để giật. Khi đến siêu thị Mỹ Phước 1 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Ch và Đ phát hiện người phụ nữ (không xác định được lai lịch) đang đi bộ trên tay cầm điện thoại di động hiệu Oppo A37 màu bạc. Lúc này, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 áp sát phía bên trái người phụ nữ cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại di động Oppo A37 màu bạc rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang điện thoại Oppo A37 màu bạc đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 2.200.000 đồng. Ch lấy 1.200.000 đồng, Ch chia cho Đ 1.000.000 đồng.

Ngày 26/11/2016, chị Phạm Thị Thùy Ng tự nguyện giao nộp lại điện thoại Oppo A37 màu bạc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: điện thoại di động hiệu Oppo A37 màu bạc trị giá 2.600.000 đồng.

Vụ thứ tám: Lăm Văn Ch và Trần Minh Đ thực hiện:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/11/2016, Ch và Đ đang chơi game tại tiệm internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ch nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ thực hiện, Đ đồng ý. Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ tìm điện thoại để giật. Khi đến đường N1-D3 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Ch và Đ phát hiện chị Nguyễn Thị H đang điều khiển xe đạp điện, túi quần bên phải của chị H có bỏ điện thoại di động hiệu Oppo 3001 màu đen. Lúc này, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 áp sát phía bên trái chị H cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại di động Oppo 3001 màu đen rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang điện thoại Oppo 3001 màu đen đến cửa hàng 175 bán cho chị Ng được 800.000 đồng. Ch lấy 500.000 đồng, chia cho Đ 300.000 đồng. Cả hai tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 26/11/2016, chị Phạm Thị Thùy Ng tự nguyện giao nộp lại điện thoại Oppo 3001 màu đen cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: điện thoại di động hiệu Oppo 3001 màu đen trị giá: 3.800.000 đồng.

Ngày 15/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát ra quyết định xử lý vật chứng trao trả điện thoại di động Oppo 3001 màu đen cho chị Hương.

Vụ thứ chín: Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch, Phạm Văn Đ và Trần Minh Đ thực hiện:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/11/2016, Th, Ch, Đ và Đ đang chơi game tại tiệm internet B V thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Lúc này Th nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động bán lấy tiền tiêu xài nên Th rủ Ch, Đ và Đ thực hiện, tất cả đồng ý. Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đi tìm điện thoại để giật. Trên đường đi, Th và Ch tách nhóm đi riêng.

Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ đến ngã tư đèn xanh-đỏ khu công nghiệp M P 1 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Th và Đ phát hiện 02 người phụ nữ (không rõ lai lịch) đang điều khiển xe Honda Vision (không rõ biển số) phía trước đầu xe có 02 điện thoại di động bỏ trong hộc đựng đồ phía trước của xe Vision nên Th điều khiển xe theo sau hai người phụ nữ. Khi đến khu vực chợ chiều thuộc khu phố 3, phường M Ph thì hai người phụ nữ dừng xe. Lúc này, Th điều khiển xe 69F1-317.24 chạy áp sát xe mô tô Vision cho Đ ngồi phía sau giật lấy hai điện thoại di động (01 điện thoại SamSung J5 và 01 điện thoại hiệu SamSung E7) rồi nhanh chóng bỏ chạy. Sau khi giật được điện thoại của hai người phụ nữ, Th điện thoại nói cho Ch và Đ biết. Th, Ch, Đ và Đ mang điện thoại SamSung J5 và điện thoại hiệu SamSung E7 đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 3.400.000 đồng.

Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ tiếp tục đi cướp giật điện thoại. Khi đến khu vực vòng xoay khu công nghiệp M P 2 thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện một thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo (không rõ biển số) phía sau chở một phụ nữ có để điện thoại SamSung J7 trong túi quần sau. Lập tức, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 từ phía sau áp sát bên trái xe của người thanh niên cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại SamSung J7 của người phụ nữ này rồi Ch tăng ga tẩu thoát. Sau khi cướp giật được điện thoại Ch đưa điện thoại SamSung J7 cho Th đem đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 2.800.000 đồng.

Tổng số tiền bán được 03 chiếc điện thoại (SamSung J5, SamSung J7 và SamSung E7) là 6.200.000 đồng. Th chia cho Th, Ch, Đ và Đ mỗi người 1.000.000 đồng còn lại 2.200.000 đồng cả bốn người ăn uống hết.

Ngày 26/11/2016, chị Phạm Thị Thùy Ng tự nguyện giao nộp lại điện thoại SamSung J5 và SamSung E7 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát. Riêng điện thoại Sam Sung J7 chị Ng đã bán lại cho người khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng thị xã Bến Cát: 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung J5 trị giá: 3.000.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung E7 trị giá: 3.200.000 đồng. Tổng cộng là 6.200.000 đồng.

Đối với điện thoại di động hiệu SamSung J7 hiện không thu hồi được, không xác định được bị hại nên không có cơ sở để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát định giá tài sản.

Ngoài ra, Th và Ch còn thực hiện 01 vụ cướp tài sản vào khoảng 21 giờ, không rõ ngày, tháng 11/2016 tại đường N1-D10 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Th điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 69F1-317.24 chở Ch ngồi phía sau áp sát phía bên trái của người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) đang đi bộ trên tay cầm điện thoại di động hiệu Huawei cho Ch ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy điện thoại di động Huawei. Sau khi cướp giật tài sản, Th và Ch mang bán điện thoại di động Huawei cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 700.000 đồng. Tiền bán được, Th chia cho Ch 300.000 đồng, Th lấy 400.000 đồng. Cả hai tiêu xài cá nhân hết. Hiện điện thoại này, chị Ng đã bán cho khách hàng (không xác định được nhân thân, lai lich) nên không thu hồi được. Vì vậy không có cơ sở để định giá tài sản đã chiếm đoạt.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 69F1-317.24 là xe của bị cáo Th. Ngày 25/11/2016, Công an thị xã Bến Cát thu giữ số tiền 251.000 đồng của Th và 1.110.000 đồng của Ch. Số tiền này, cả hai khai nhận là tiền bán điện thoại do cướp giật của người khác mà có chưa tiêu xài hết.

Đối với xe mô tô hiệu Luvias biển số 69D1-263.99 là xe của ông Lăm Văn M là cha ruột của Lăm Văn Ch. Ch mượn xe đi chơi, ông M không biết Ch sử dụng làm phương tiện đi cướp giật tài sản của người khác. Ngày 15/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe mô tô hiệu Luvias biển số 69D1-263.99 cho ông Lăm Văn M (Bút lục số 158-159)

Đối với những điện thoại di động Vinaphone, Sam Sung E7 màu trắng, Sam Sung J5 màu đen, Oppo A37F màu bạc, Oppo A33W màu trắng, Hkphone Revo HD4 màu đen mà Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch, Phạm Văn Đ và Trần Minh Đ đã cướp giật chưa xác định được người bị hại. Hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ (bảo quản vật chứng) khi nào tìm được chủ sở hữu sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Trần Minh Đ thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với hành vi mua điện thoại của Phạm Thị Thùy Ng do không biết những điện thoại này là do Nguyễn Vũ Th cùng đồng bọn đã chiếm đoạt của người khác mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Thị Thùy Ng là có căn cứ. Hiện chị Ng không yêu cầu bị cáo Th, Ch, Đ và Trần Minh Đ phải trả lại số tiền mà chị Ng đã mua điện thoại của các bị cáo.

Cáo trạng số 76/QĐ-KSĐT ngày 09/5/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát để xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d, Khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 136; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Th từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm g Khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 69 và 74 của Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lăm Văn Ch từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Th và Đ phải bồi thường cho người bị hại Mai Thị Ng trị giá điện thoại Oppo Neo 3 đã chiếm đoạt.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 69F1-317.27 và toàn bộ số tiền các bị cáo thu lợi bất chính.

Ý kiến của người bào chữa: Thống nhất về tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, do bị cáo Ch và bị cáo Đ tuổi đời còn nhỏ, cha mẹ phải lao động để kiếm sống nên chưa có sự quan tâm giáo dục đầy đủ đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội và để tạo điều kiện cho các bị cáo hòa nhập với cộng đồng.

Các bị cáo không tranh luận.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận do không có tiền tiêu xài nên các bị cáo nảy sinh ý định đi tìm người khác đang sử dụng điện thoại không cảnh giác để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, các bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, cụ thể như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút, ngày 25/11/2016, trên đoạn đường D10 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Th phát hiện chị Nh đang đi bộ trên tay cầm điện thoại di động nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Ch áp sát phía bên trái chị Nh cho Ch ngồi phía sau giật lấy điện thoại di động SamSung Galaxy J3 trị giá 3.500.000 đồng của chị Nh. Sau khi chiếm đoạt điện thoại, Th tăng ga tẩu thoát đến đoạn đường D2 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì bị bắt quả tang. Ngoài lần chiếm đoạt điện thoại của bị hại Nh, các bị cáo còn nhiều lần chiếm đoạt điện thoại của các bị hại khác, cụ thể như sau:

Vụ 1: Ngày 19/11/2016, tại khu vực đường DE3 thuộc khu phố 3B phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũng với cách thức như trên Th và Ch đã chiếm đoạt điện thoại hiệu Vinaphone của một người phụ nữ ngồi phía sau xe mô tô hiệu Max (không xác định biển số và nhân thân lai lịch của người bị hại), hiện Công an thị xã Bến Cát đang thu giữ vật chứng.

Vụ 2: Ngày 20/11/2016, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Ch đi đến đường N1- D10 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Th và Ch phát hiện người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) chạy xe đạp điện trên tay cầm 01 điện thoại di động hiệu Hkphone Revo màu đen. Th điều khiển xe mô tô áp sát bên trái người phụ nữ cho Ch ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại Hkphone Revo màu đen. Sau đó, Th và Ch mang điện thoại Hkphone Revo đến cửa hàng 175 bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 350.000 đồng. Tiền có được, cả hai chơi game hết.

Vụ 3: Ngày 10/11/2016, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ đến đường DB4 thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì phát hiện em Phạm Tấn Tr là con của chị Mai Thị Ng đang cầm điện thoại di động hiệu Oppo Neo 3 ngồi chơi trên ghế đá trước nhà, Đ đến giật điện thoại Oppo Neo 3 của cháu Tr rồi lên xe chạy thoát. Cả hai mang điện thoại đến cửa hàng 175 bán cho chị Ng được 500.000 đồng và chia nhau tiêu xài.

Vụ 4: Khoảng 18 giờ, tháng 11/2016, Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ đến đường D4 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện một người phụ nữ (không xác định nhân thân, lai lịch) đang đi bộ đeo tai phone nghe nhạc còn điện thoại di động hiệu Oppo A33W (Oppo Neo 7) bỏ trong túi quần phía sau. Th điều khiển xe mô tô áp sát bên trái người phụ nữ cho Đ ngồi sau dùng tay phải giật được điện thoại Oppo A33W rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, cả hai bán điện thoại cho chị Ng được 1.500.000 đồng và chia nhau tiêu xài hết.

Vụ 5: Khoảng 21 giờ ngày 18/11/2016, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến khu vực vòng xoay khu công nghiệp M P 2 thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì cả hai phát hiện một thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Novo (không rõ biển số) phía sau chở một phụ nữ (không xác định nhân thân, lai lịch) đang sử dụng điện thoại Oppo Neo 7. Lập tức, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 từ phía sau áp sát bên trái xe của người thanh niên cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại Oppo Neo 7 của người phụ nữ này rồi Ch tăng ga tẩu thoát. Ch sử dụng điện thoại này làm phương tiện liên lạc cá nhân đến khi bị bắt.

Vụ 6: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/11/2016, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến đường D10 – N1 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì phát hiện chị Bùi Thị Th ngồi phía sau xe đạp điện trên tay cầm điện thoại di động SamSung Galaxy J7 nên Ch điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại di động SamSung Galaxy J7 của chị Th rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang điện thoại SamSung J7 đến cửa hàng 175 bán cho chị Ng được 2.700.000 đồng.

Vụ 7: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/11/2016, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến siêu thị M P 1 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì phát hiện người phụ nữ (không xác định được lai lịch) đang đi bộ trên tay cầm điện thoại di động hiệu Oppo A37 màu bạc nên Ch điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái người phụ nữ cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại di động Oppo A37 màu bạc rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang điện thoại đến cửa hàng 175 bán cho chị Ng được 2.200.000 đồng. Ch lấy 1.200.000 đồng, Ch chia cho Đ 1.000.000 đồng.

Vụ 8: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/11/2016, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến đường N1-D3 thuộc khu phố 4, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì phát hiện chị Nguyễn Thị H đang điều khiển xe đạp điện, túi quần bên phải của chị H có bỏ điện thoại di động hiệu Oppo 3001 màu đen nên Ch điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái chị H cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại di động Oppo 3001 màu đen rồi tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang điện thoại Oppo 3001 màu đen đến cửa hàng 175 bán cho chị Ng được 800.000 đồng. Ch lấy 500.000 đồng, chia cho Đ 300.000 đồng. Cả hai tiêu xài cá nhân hết.

Vụ 9: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/11/2016, tại khu vực chợ chiều thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Th điều khiển xe mô tô biển số 69F1-317.24 chở Đ đến áp sát 02 người phụ nữ đang ngồi trên xe mô tô Vision (không xác định biển số và nhân thân lai lịch của người bị hại) cho Đ ngồi phía sau giật lấy 01 điện thoại di động SamSung J5 và 01 điện thoại hiệu SamSung E7 rồi nhanh chóng bỏ chạy. Ch cũng điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 chở Đ đến khu công nghiệp M P 2 thuộc khu phố 3, phường M P, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì phát hiện một thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo (không rõ biển số) phía sau chở một phụ nữ có để điện thoại SamSung J7 trong túi quần sau. Lập tức, Ch điều khiển xe mô tô biển số 69D1-263.99 từ phía sau áp sát bên trái xe của người thanh niên cho Đ ngồi phía sau giật điện thoại SamSung J7 của người phụ nữ này rồi Ch tăng ga tẩu thoát. Sau khi cướp giật, Th, Đ, Ch và Đ đến cửa hàng 175 bán 03 điện thoại cho chị Ng được 6.200.000 đồng. Th chia mỗi người 1.000.000 đồng còn lại 2.200.000 đồng cả bốn người ăn uống hết.

Ngoài ra, Th và Ch còn thực hiện 01 vụ cướp điện thoại di động hiệu Huawei của một người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) đang đi bộ trên đường N1-D10 thuộc khu phố 6, phường Th H, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương vào khoảng 21 giờ, không rõ ngày, tháng 11/2016. Sau khi cướp giật tài sản, Th và Ch mang bán cho chị Phạm Thị Thùy Ng được 700.000 đồng. Tiền bán được, Th chia cho Ch 300.000 đồng, Th lấy 400.000 đồng.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự. Do các bị cáo dùng xe môtô làm phương tiện cướp giật tài sản nên thuộc tình tiết định khung quy định tại Điểm d (dùng thủ đoạn nguy hiểm) Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 76/QĐ-KSĐT ngày 09/5/2017 của Viện Kiểm Sát nhân dân thị xã Bến Cát, truy tố các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d, Khoản 2, Điều 136 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Trong vụ án, các bị cáo phạm tội ở mức độ đồng phạm giản đơn, cùng phối hợp thực hiện, trong đó:

Bị cáo Nguyễn Vũ Th là người khởi xướng, rủ rê đồng bọn phạm tội, bị cáo điều khiển xe môtô tìm đối tượng sơ hở để cướp giật tài sản, bị cáo ép xe bị hại để cho đồng bọn chiếm đoạt tài sản của người bị hại, tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 3.125.000 đồng.

Bị cáo Ch tích cực thực hiện tội phạm, thực hiện tội phạm với vai trò rủ rê và vai trò giúp sức. Trong 09 vụ cướp giật tài sản thì bị cáo thực hiện 05 vụ với vai trò điều khiển xe mô tô tìm nơi bị hại sơ hở để cho đồng bọn ngồi phía sau xe mô tô chiếm đoạt tài sản của người bị hại và 04 vụ bị cáo trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị hại, tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 4.775.000 đồng.

Bị cáo Đ thực hiện tội phạm với vai trò giúp sức, bị cáo trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị hại, trong tất cả các vụ bị cáo tham gia thì bị cáo đều ngồi phía sau xe mô tô do đồng bọn chở, đợi khi bị hại sơ hở thì bị cáo trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị hại đem bán chia nhau tiêu xài, tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 4.900.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo phạm tội nhiều lần nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; bị cáo Th rủ rê người chưa thành niên phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 46 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Ch và Đ thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng thêm Điều 69 và 74 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chấp nhận ý kiến tranh luận của người bào chữa.

Riêng đối với Trần Minh Đ thực hiện hành vi cướp giật tài sản 02 vụ, thu lợi bất chính số tiền 1.850.000 đồng. Tính đến ngày phạm tội Đ 13 tuổi 04 tháng 26 ngày. Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự thì Đ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Đối với hành vi mua điện thoại của Phạm Thị Thùy Ng, do không biết những điện thoại này là do bị cáo Th cùng đồng bọn đã chiếm đoạt của người khác mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Thị Thùy Ng là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Th và Đ chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Oppo Neo 3 trị giá 2.450.000 đồng của bị hại Ng nên bị cáo Th và Đ phải có trách nhiện liên đới bồi thường số tiền nêu trên cho người bị hại Mai Thị Ng.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Thùy Ng không yêu cầu bị cáo Th, Ch, Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh Đ phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng đỏ biển số 69F1-317.27 là phương tiên phạm tội của bị cáo Th.

- 1.351.000 đồng (trong đó 251.000 đồng của bị cáo Th và 1.100.000 đồng của bị cáo Ch) là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th và Ch.

Buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh Đ phải tiếp tục nộp lại tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Đối với xe mô tô hiệu Luvias biển số 69D1-263.99, bị cáo Ch sử dụng làm phương tiện phạm tội, xe này của ông Lăm Văn M là cha ruột của bị cáo Ch, ông M không biết Ch sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên ngày 15/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe mô tô hiệu Luvias biển số 69D1-263.99 cho ông Lăm Văn M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với những điện thoại di động Vinaphone, Sam Sung E7 màu trắng, Sam Sung J5 màu đen, Oppo A37F màu bạc, Oppo A33W màu trắng, Hkphone Revo HD4 màu đen mà Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch, Phạm Văn Đ và Trần Minh Đ đã cướp giật chưa xác định được người bị hại. Hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ (bảo quản vật chứng) khi nào tìm được chủ sở hữu sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Th, Lăm Văn Ch và Phạm Văn Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt:

1. Áp dụng Điểm d, Khoản 2 Điều 136; điểm n và g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 53 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Th 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2016.

2. Áp dụng Điểm d, Khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53, Điều 69 và Khoản 1 Điều 74 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lâm Văn Ch 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/11/2016.

3. Áp dụng Điểm d, Khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53, Điều 69 và Khoản 2 Điều 74 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ