- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2017/HSST Ngày: 27/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Bùi Thế Hưng
Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Xuân Tìm
Bà Nguyễn Thị Quy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27/12/2017, TAND huyện Kim Thành mở phiên tòa công khai tại trụ sở để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2017/HSST ngày 23/11/2017 đối với bị cáo:
TRẦN VĂN Đ, sinh năm: 1981; Nơi ĐKHKTT: Xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Con ông: không xác định được; Con bà: Lê Thị D; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị T, có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/10/2017, chuyển tạm giam tại trại giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 18/10/2017 đến nay.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do nghiện ma túy nên Trần Văn Đ mua ma túy về sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khoảng 10h15’ ngày 14/10/2017, Đ cất giữ 02 gói ma túy đá ở túi quần và đi bộ trên đường thuộc địa phận thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương thì gặp anh Đàm Văn S, sinh năm 1968 ở khu 2 , phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, làm nghề xe ôm chở đối tượng tự khai là Hoàng Văn C, sinh năm 1990 ở thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương đi đến. Do biết Đ là đối tượng nghiện và có bán ma túy nên C hỏi Đ có ma túy đá bán cho C 500.000đ thì Đ đồng ý. C đưa cho Đ 500.000đ (gồm hai tờ tiền mệnh giá 200.000đ, một tờ mệnh giá 100.000đ). Đ cầm tiền và lấy 02 gói ma túy đá trong túi quần đưa cho C, khi C vừa cầm hai túi ma túy cho vào túi quần thì phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Hải Dương phối hợp với Công an xã Kim Anh, Kim Thành, Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu trong túi quần C đang mặc 02 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 1,5cmx1cm, trong chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng. Đ bỏ chạy thì bị bắt, thu trong túi quần Đ đang mặc số tiền 500.000đ và 01 thẻ căn cước công dân số 030081001085 mang tên Trần Văn Đ.
Tại kết luận giám định số 415/KLGĐ ngày 16/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Tinh thể màu trắng thu của Hoàng Văn C có tổng trọng lượng 0,270g, là loại Methamphetamine, hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,210g.
Ngày 18/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đã trả lại thẻ căn cước công dân số 030081001085 mang tên Trần Văn Đ cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980 ở thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương là vợ của bị cáo Đ.
Tại Cáo trạng số 78/VKS-HS ngày 20/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm truy tố, nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội xem xét tình tiết, tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 14/10/2017.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: tịch thu và tiêu hủy số Methamphetamine hoàn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ Nhà nước 500.000đ thu giữ của bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, những lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra cũng như lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang. Những chứng cứ này cũng phù hợp khách quan với những tài liệu điều tra khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án.
Từ đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 13/10/2017, tại đường thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Trần Văn Đ có hành vi bán trái phép 0,270g ma túy loại Methamphetamine cho đối tượng tự khai là Hoàng Văn C, sinh năm 1990 ở thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương với giá 500.000đ thì bị phát hiện và bắt quả tang.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép 0,270g chất ma túy loại Methamphetamine là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của bộ luật hình sự nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS là đúng người, đúng tội.
Methamphetamine là một loại chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nhưng chỉ vì tư lợi, lười lao động, bị cáo đã bán trái phép ma túy cho người khác nhằm lấy tiền tiêu xài, hành vi này xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây mất trật tự an toàn xã hội, nên cần có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và mang tính răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữcủa đối tượng Hoàng Văn C 0,270g Methamphetamine, sau khi đi giám định hoàn lại mẫu vật là 0,210g; Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 67 Nghị định số 82 ngày 19/7/2013 là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.
Đối với số tiền 500.000đ thu giữ của bị cáo, xét đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS và điểm c khoản 2 Điều 76 BLTTHS.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trần Văn Đ khai số ma túy trên Đ mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực Q, TP. Hải Phòng nên không có căn cứ để xác minh.
Đối với đối tượng tự khai là Hoàng Văn C, có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong quá trình làm việc tại cơ quan điều tra Công an tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở C đã bỏ trốn, qua xác minh thì không có đối tượng nào có tên và địa chỉ như trên. Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 76 BLTTHS:
+ Tịch thu và tiêu hủy 0,210g Methamphetamine trong 01 phong bì niêm phong số 415/KLGĐ-PC54 có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
+ Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 500.000đ.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Kim Thành với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành ngày 24/11/2017).
4. Án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kim Thành; - Công an huyện Kim Thành; - Trại tạm giam Kim Chi - CA tỉnh; - Chi cục THA dân sự huyện Kim Thành; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thế Hưng |