vanban.org

Bản án 78/2017/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Áp dụng điểm d, khoản 2 – Điều 9, Điều 608 của Bộ luật dân sự năm 2005; Xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H về việc buộc ông Đặng Minh H bồi thường thiệt hại 45 kg gà thịt có giá trị thành tiền là 4.050.000 (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng. Về án phí: Áp dụng khoản 1 - Điều 147 Bộ luật tố Tụng dân sự; khoản 1 - Điều 27 của Pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/. Áp dụng điểm d, khoản 2 – Điều 9, Điều 608 của Bộ luật dân sự năm 2005; Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 9 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2017/DS-ST .
Ngày: 27/9/2017
V/v: “ Tranh chấp bồi thường
thiệt hại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phần - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hương.

Cỏc Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Ngọc Lợi

2. Bà Dư Mỹ Linh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Đình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 170/2017/TLST-DS, ngày 22 tháng 06 năm 2015 về tranh chấp bồi thường thiệt hại tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2017/QĐXX-ST ngày 08 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị H - Sinh năm: 1955 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Đặng Minh H –Sinh năm: 1970 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày: Bà có phần đất vườn giáp với phần đất ruộng của ông Đặng Minh H, giữa hai thửa đất có trụ đá. Sau đó, bà đó nhổ trụ đá trên nhưng có trồng một hàng tràm trên đất làm ranh. Đến ngày 07/12/2014, ông H sử dụng thuốc diệt chuột trộn với thức ăn rãi thuốc vào phần đất thuộc quyền sử dụng của bà và khi đặt thuốc ông H không thông báo cho bà biết. Từ đó dẫn đến số gà của bà bị ăn nhầm thức ăn có thuốc chuột chết, tổng số là 28 con, trong đó có 22 con gà giò mỗi con nặng 1,5kg, 6 con gà mái mỗi con 2kg, tổng trọng lượng khoảng 45kg. Khi số gà chết, bà có trình báo chính quyền địa phương, cụ thể là tổ nhân dân tự quản ấp T chứng kiến số gà chết và có lập biên bản thể hiện vụ việc trên. Nay bà yêu cầu ông Minh H bồi thường cho bà số gà chết 45kg x 90.000 đồng/kg, trị giá thành tiền là 4.050.000 đồng.

Tại bản tự khai và tại phiên Tòa, bị đơn ông Đặng Minh H xác định có dùng thuốc trộn với lúa mục đích để diệt chuột nhưng ông đặt thuốc bên phần đất của ông không liên quan gì đến phần đất của bà H. Ông thừa nhận khi dùng đặt thuốc diệt chuột ông không thông báo cho bà H biết. Còn việc bà H nuôi gà mà không nhốt lại thả lan và ăn phải và chết thì bà tự gánh chịu thiệt hại. Mặc khác, khi gà bà H chết bà không hề nói với ông và kêu ông có mặt chứng kiến số lượng gà chết bao nhiêu và chết vì nguyên nhân gì. Cách nửa tháng sau chính quyền mời ông lên trụ sở hòa giải và được cho biết số lượng gà bà H chết như trên. Còn nguyên nhân gà chết chưa hẳn là do ăn phải thuốc diệt chuột, vì nếu ăn phải thuốc thì gà phải chết liền chứ không phải chết dần mỗi ngày. Nên bà H khởi kiện yêu cầu ông bồi thường 45 kg gà thịt x 90.000 đồng = 4.050.000 đồng, ông không đồng ý.

Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự qui định. Tuy nhiên, thẩm phán cần chủ động hơn về thời hạn giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Bà H khởi kiện ông H yêu cầu bồi thường thiệt hại số gà bị thuốc chết với giá trị thành tiền là 4.050.000 đồng. Nhưng bà H không chứng minh được số gà bà chết nguyên nhân là do ăn phải thuốc diệt chuột do ông H đặt và tổng trọng lượng gà chết là 45 kg nên yêu cầu trên của bà không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[ 1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị H yêu cầu ông Đặng Minh H bồi thường thiệt hại tài sản là 45kg gà thịt bị thuốc chết nên đây được xem là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được qui định tại Khoản 6 - Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của bà H về việc buộc ông H bồi thường thiệt hại số gà bị thuốc chết có giá trị thành tiền là 4.050.000 đồng. Xét thấy, thực tế ông H có dùng thuốc để bẫy chuột nhằm tránh chuột phá hoại lúa. Điều này, được ông H thừa nhận tại bản tự khai cũng như tại phiên hòa giải và tại phiên Tòa hôm nay. Số gà bà H bị chết là có thật nhưng để xác định nguyên nhân dẫn đến số gà bà H chết do ăn phải thuốc hay là bị bệnh chết là nghĩa vụ chứng minh thuộc về bà H. Tại biên bản lấy lời khai của bà, bà xác định số gà bị chết chia làm 03 đợt trong nhiều ngày với số lượng là 28 con trong lượng 45 kg. Khi gà chết bà có báo chính quyền đến lập biên bản thể hiện số gà bị chết và vị trí ông H đặt thuốc diệt chuột. Bà cho rằng tất cả biên bản trên bà đó cung cấp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và xác định không còn chứng cứ nào khác.Tuy nhiên, qua đối chiếu với biên bản xác minh của ấp T ngày 10, 11 tháng 12 năm 2014, cũng như biên bản hòa giải của tổ hòa giải ấp T, xã T (do bà Hoa cung cấp) không thể hiện số gà chết tại thời điểm chính quyền có mặt lập biên bản là bao nhiêu con, trọng lượng mỗi con? Chết vào thời gian nào? Chỉ thể hiện số gà chết qua lời khai của bà Hoa. Đối với những người làm chứng ông Đoàn Văn N, ông Nguyễn Đáng K cũng xác định nghe bà H nói lại chứ không chứng kiến số lượng gà bà H đó chết. Từ đó, không đủ căn cứ để xác định thiệt hại theo yêu cầu của bà H. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm d khoản 2 Điều 9, Điều 608 của Bộ luật dân sự năm 2005, không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc buộc ông H bồi thường thiệt hại số gà bị chết có giá trị thành tiền là 4.050.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng Khoản 1 - Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 - Điều 27 của Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 về án phí, lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền 4.050.000 đồng x 5% = 202.500 đồng.

Do yêu cầu của bà H không được chấp nhận nên bà H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 202.500 đồng. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà H đó nộp là 101.000 đồng theo biên lai thu tiền số 9115 ngày 22 tháng 6 năm 2015. Bà H còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 101.500 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Áp dụng điểm d, khoản 2 – Điều 9, Điều 608 của Bộ luật dân sự năm 2005; Xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H về việc buộc ông Đặng Minh H bồi thường thiệt hại 45 kg gà thịt có giá trị thành tiền là 4.050.000 (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.

Về án phí: Áp dụng khoản 1 - Điều 147 Bộ luật tố Tụng dân sự; khoản 1 - Điều 27 của Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 về án phí, lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc bà Võ Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 202.500 đồng (Hai trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng). Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà H đó nộp là 101.000 đồng (Một trăm lẻ một nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 9115 ngày 22 tháng 6 năm 2015, còn lại 101.500 đồng (Một trăm linh một nghìn năm trăm đồng) buộc bà Hoa tiếp tục nộp.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/9/2017)

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ