- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:779/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2023 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông H Ngọc Chiến.
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.
2. Ông H Huy Hoàng .
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 237/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023. Về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 357/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 320/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Quốc H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: 428/27 Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ PB, sinh năm 1989.
Địa chỉ: D5/20, tổ 5, ấp 4, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện; bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được ông Phan Quốc H trình bày:
Ông Phan Quốc H và bà Nguyễn Thị Lệ PB tự nguyện kết hôn vào năm 2012; theo giấy chứng nhận kết hôn số 203; quyển số 02/2012, ngày 29/10/2012 do Ủy ban nhân dân phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Thời gian đầu sống chung hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn Thị Diễm My, sinh ngày 03/8/2016. Hiện tại trẻ My đang do bà PB trực tiếp nuôi dưỡng.
Đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; cả hai đã sống ly thân từ đó cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên ông H yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà PB.
Về con chung: Ông H đồng ý tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Thị Diễm My, sinh ngày 03/8/2016 cho bà PB trực tiếp nuôi dưỡng. MAÃU 52/NQ01/2017
Về cấp dưỡng nuôi con: Không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không tham dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên việc giải quyết vụ án vẫn còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án tiến hành lấy lời khai trẻ My để nghi nhận ý kiến và yêu cầu của trẻ và đại diện Viện kiểm sát không phát biểu về đường lối giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1].Ông Phan Quốc H khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Lệ PB; bà PB có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
.Về sự vắng mặt của bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ PB, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập đương sự …tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà PB vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án; ông H có đơn xin giải quyết vắng mặt; Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông H và bà PB theo quy định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về Nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 203; quyển số 02/2012, ngày 29/10/2012 do Ủy ban nhân dân phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Phan Quốc H và bà Nguyễn Thị Lệ PB là hôn nhân hợp pháp được qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Quốc H xác nhận là đời sống chung giữa ông và bà PB có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không còn hòa hợp và không ai còn quan tâm chăm sóc nhau từ lâu, cả hai đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. MAÃU 52/NQ01/2017
Tại kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “về mâu thuẫn giữa ông Phan Quốc H và bà Nguyễn Thị lệ PB địa phương không rõ”. Tuy nhiên, qua lời trình bày của ông H và thực tế cả hai đã sống ly thân và từ lâu không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau thì có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà PB và ông H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc ông Phan Quốc H yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Lệ PB là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phan Quốc H .
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Diễm My, sinh ngày 03/8/2016. Ông H đồng ý giao trẻ My cho bà PB trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H không cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu của ông H là phù hợp, bởi lẽ kể từ khi bà PB và ông H mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay thì trẻ My do bà PB trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện tại trẻ My đang ở với bà PB; đồng thời cần sự ổn định về tâm sinh lý của trẻ My nên việc ông H đồng ý để bà PB trực tiếp nuôi dưỡng trẻ My là phù hợp.
Đối với yêu cầu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc chưa ghi nhận ý kiến, nguyện vọng của trẻ My để xem xét trẻ My có nguyện vọng sống với ai:
Qúa trình giải quyết vụ án; Tòa án đã nhiều lần yêu cầu ông H dẫn trẻ My đến Tòa án để tiến hành lập biên bản ghi nhận ý kiến trẻ My. Tuy nhiên ông H trình bày không thể tiếp xúc được với trẻ My vì bà PB và gia đình bà PB ngăn cản không cho tiếp xúc và dẫn đi đâu.
Tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “…đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên…”
Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Đối chiếu với các yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ thì trong vụ án này không có tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; không có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Do đó, việc lấy ý kiến trẻ chưa thành niên nhưng đủ 07 tuổi trong vụ án này là không cần thiết.
Mặt khác, kể từ khi ông H và bà PB sống ly thân với nhau từ năm 2017 đến nay thì bà PB là người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ My, để ổn định tâm sinh lý và sự phát triển ổn định của trẻ My thì việc tiếp tục để bà PB trực tiếp nuôi dưỡng trẻ My là phù hợp. Bà Nguyễn Thị lệ PB là người đang trực tiếp nuôi trẻ My nhưng không tham gia tố tụng nên tòa không thể yêu cầu bà PB dẫn theo trẻ My đến tòa để tiến hành ghi nhận ý kiến trẻ My.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H; giao trẻ My cho bà PB nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H không cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H. MAÃU 52/NQ01/2017
Về tài sản chung và nợ chung: Ông H khai là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng bà PB vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của bà về tài sản chung, nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung theo chứng cứ và yêu cầu của ông H. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Bà Nguyễn Thị Lệ PB đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng bà vẫn vắng mặt. Vì vậy, ông đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91, 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Phan Quốc H phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 208; Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 6; Điều 91, 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phan Quốc H đối với bà Nguyễn Thị Lệ PB.
Ông Phan Quốc H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Lệ PB. Quan hệ hôn nhân giữa ông Phan Quốc H và bà Nguyễn Thị Lệ PB chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 203; quyển số 02/2012, ngày 29/10/2012 do Ủy ban nhân dân phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Thị Diễm My, sinh ngày 03/8/2016 cho bà Nguyễn Thị Lệ PB trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H.
Ông Phan Quốc H có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc MAÃU 52/NQ01/2017 gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng bà PB vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của bà về tài sản chung, nợ chung. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
4.Về án phí: ông Phan Quốc H chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0042796 ngày 17/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự (4); - VKSND H. Bình Chánh (2); - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1); - Cơ quan nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ vụ án (4). MAÃU 52/NQ01/2017 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA H Ngọc Chiến |