vanban.org

Bản án 779/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hủy hợp đồng thỏa thuận đặt mua số 04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019 giữa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Tranh chấp hơp đồng thỏa thuận đặt mua"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 779 /2021/DS-ST
Ngày: 13-4-2021
V/v tranh chấp hợp đồng
thỏa thuận đặt mua.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tâm

2. Bà Phan Thị Bé

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Phương Giang - Thư ký Toà án

nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý

số 275/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp

đồng thỏa thuận đặt mua” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

854/2021/QĐST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Tôn Thất T, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, phường N, thị xã Tr, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bị đơn: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D

Địa chỉ: 1457 Nguyễn Duy Trinh, khu phố P, phường Th, thành phố Thủ

Đức (Quận 9 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hoàng T1 – Giám đốc (vắng mặt)

Địa chỉ: L2-46 KDC R, đường C, phường B, thành phố Thủ Đức (Quận 9

cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Cao Thị H, sinh năm 1993

Địa chỉ: 35/11/33 L, phường X, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Ông Tôn Thất T (có mặt)

(Văn bản ủy quyền 15/5/2020)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25/02/2020, bổ sung ngày 06/3/2020 và lời khai tại

Tòa án, nguyên đơn ông Tôn Thất T trình bày:

Ngày 07/3/2019, ông T ký Hợp đồng thỏa thuận đặt mua số

04/2019/HĐTT với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D ( gọi tắt Công ty D) phần đất diện tích 59m2 thuộc thửa 482 tờ bản đồ 12 phường L, Quận 9 với giá trị 1.618.960.000 đồng ( thanh toán thành 07 đợt). Ông T đã giao cho Công ty D số tiền 971.376.000 đồng (tương đương 60% giá trị hợp đồng). Công ty D không thực hiện san lấp mặt bằng và các thủ tục pháp lý để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên cho ông T nên ông T nhắn tin yêu cầu ông Vũ Hoàng T1 – Giám đốc Công ty D hoàn trả số tiền đã nhận. Ngày 28/3/2020, ông T1 có viết bản cam kết đến ngày 01/4/2020 hoàn trả cho ông T số tiền đã nhận 971.376.000 đồng theo Hợp đồng thỏa thuận đặt mua số 04/2019/HĐTT giữa ông T với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D. Tuy nhiên, Công ty D không thực hiện trả tiền như cam kết cho ông T nên ông T khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng thỏa thuận đặt mua số 04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019 giữa ông với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D, buộc Công ty D trả cho ông số tiền 971.376.000 đồng và bồi thường 10% trên số tiền này là 97.137.600 đồng. Tổng cộng 1.068.513.600 đồng.

Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý, giấy triệu tập và Thông báo phiên

họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho Công ty D và ông Vũ Hoàng T1 – Giám đốc Công ty D nhưng ông T1 không lên Tòa làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Tùng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị H thống nhất với trình

bày và yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Ông T vẫn yêu cầu hủy Hợp đồng đồng thỏa thuận đặt mua

số 04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019 giữa ông với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D, buộc Công ty trả cho ông số tiền 971.376.000 đồng. Ông T rút yêu cầu bồi thường trả 10% trên số tiền 971.376.000 đồng là 97.137.600 đồng.

Bị đơn Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D vắng mặt.

Ông T đại diện ủy quyền của bà Cao Thị H thống nhất yêu cầu của

nguyên đơn.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo qui định của pháp luật.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi

thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.

- Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận

yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, tuyên hủy hợp đồng thỏa thuận đặt mua số

04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019 giữa ông Tôn Thất T với Công ty cổ phần đầu

tư xây dựng nhà D, buộc Công ty D trả cho ông T số tiền 971.376.000 đồng.

Đình chỉ xét xử yêu cầu bồi thường 10% trên số tiền 971.376.000 đồng. Công ty

cổ phần đầu tư xây dựng nhà D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Tôn Thất T khởi kiện Công ty cổ phần đầu tư xây

dựng nhà D ( địa chỉ: phường Th, thành phố Thủ Đức) với yêu cầu hủy Hợp

đồng thỏa thuận đặt mua giữa đôi bên và buộc Công ty cổ phần đầu tư xây dựng

nhà D trả tiền đã nhận nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng thỏa thuận đặt mua

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy

định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số

doanh nghiệp 0313450159 thì Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D có trụ sở

chính tại 1457 Nguyễn Duy T2, khu phố L, phường Th, Quận 9, Thành phố Hồ

Chí Minh, do ông Vũ Hoàng T1 – chức danh Giám đốc làm đại diện theo pháp

luật của Công ty D. Và theo công văn 5383/ĐKKD-THKT ngày 27/7/2020 của

Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí

Minh thì đến nay Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D chưa đăng ký giải thể.

Bị đơn Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D ( đại diện theo pháp luật

ông Vũ Hoàng T1) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn

vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn

theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

. Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ Hợp đồng thỏa thuận đặt mua ngày 07/3/2019 giữa ông Tôn

Thất T và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D với nội dung: Ông T đặt mua

01 sản phẩm thuộc khu đất Dự án LP, mã số nền LP12, diện tích 59m2 với giá

1.618.960.000 đồng. Thanh toán tiền thành 07 đợt. Công ty D có nghĩa vụ hoàn

thành đầu tư cơ sở hạ tầng khu đất, chuyển mục đích đất thành đất ở đô thị, tách

thửa, cấp Giấy chứng nhận sổ riêng cho ông T.

Thực hiện hợp đồng ông T đã thanh toán cho Công ty D số tiền

971.376.000 đồng, tương đương 60% giá trị hợp đồng. Ông Vũ Hoàng T1 cũng

đã xác nhận số tiền ông T đóng theo Hợp đồng số 04/2019/HĐTT là

971.376.000 đồng tại Bản cam kết ngày 28/3/2020.

Xét Bản cam kết ngày 28/3/2020, ông Vũ Hoàng T1 – Giám đốc Công ty

Delta cam kết hoàn trả cho ông T số tiền 971.376.000 đồng theo Hợp đồng số

04/2019/HĐTT và được ông T đồng ý, đã thể hiện ý chí của đôi bên không tiếp tục thực hiện Hợp đồng số 04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019. Do đó ông T yêu cầu hủy Hợp đồng số 04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019 giữa ông Tôn Thất T với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D và buộc Công ty D hoàn trả số tiền 971.376.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa ông T rút yêu cầu Công ty D bồi thường 10% trên số

tiền 971.376.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Tôn Thất T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông T tiền tạm

ứng án phí đã nộp là 22.027.704 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0013458 ngày 24/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D phải chịu án phí (36.000.000

đồng + 3% x 171.376.000 đồng) = 41.141.280 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Áp dụng Điều 357, 423, 427 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Hủy hợp đồng thỏa thuận đặt mua số 04/2019/HĐTT ngày 07/3/2019 giữa

ông Tôn Thất T với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D đối với phần đất diện tích 59m2 thuộc thửa 482 tờ bản đồ 12 phường L, Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D có trách nhiệm trả cho ông Tôn

Thất T số tiền 971.376.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có

đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Tôn Thất T về việc đòi bồi

thường 10% trên số tiền 971.376.000 đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Tôn Thất T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông T tiền tạm

ứng án phí đã nộp là 22.027.704 đồng theo Biên lai thu tiền số

AA/2019/0013458 ngày 24/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty cổ phần đầu tư xây dựng nhà D phải chịu án phí 41.141.280

đồng ( Bốn mươi mốt triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn hai trăm tám mươi

đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7

và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án

mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án

hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

Cỡ chữ