vanban.org

Bản án 777/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Hữu T. Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Đào V, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 06/02/2003 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 777/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 31-8-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vạn

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 8 năm 2019 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 291/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1984

Địa chỉ: D13/35A ấp 4A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm: 1974

Địa chỉ: Nhà không số, tổ 13 (nay là tổ 8), ấp 4A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà T, ông T có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 06 tháng 3 năm 2020 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà và ông Lê Hữu T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2003, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đào V, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 06/02/2003. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra nhưng đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bà và ông T bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung, không cùng nhau chia sẻ được khó khăn trong cuộc sống. Bà và ông T sống ly thân từ tháng 02 năm 2018 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, cuộc sống chung không còn ý nghĩa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Bà và ông T chung sống có hai con chung là trẻ Lê Thị Hà T, sinh ngày 10/01/2004 và trẻ Lê Hữu N, sinh ngày 25/4/2010. Hiện tại hai trẻ đang sống cùng bà T. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T và trẻ N, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung giữa bà và ông T. Quá trình chung sống, bà và ông T không có nợ chung.

Tại phiên tòa, bà vẫn giữ nguyên ý kiến nêu trên. Ngoài ra, bà không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Lê Hữu T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2003, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đào V, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 06/02/2003. Quá trình chung sống, ông và bà T chung sống bình thường, không có bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra. Vào tháng 5 năm 2018 thì ông bị bệnh nên ra ngoài bắc để chữa trị, sau khi vào lại Sài Gòn thì bà T đã bỏ nhà ra đi, ông không biết nguyên nhân vì sao. Trong quá trình chung sống, ông nghe nói bà T có mối quan hệ không rõ ràng với người đàn ông khác bên ngoài nhưng ông đều bỏ qua cho bà T. Ông và bà T sống ly thân từ khi ông bắt đầu bị bệnh cho đến nay. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông chưa đồng ý vì ông đang bị bệnh, bà T cứ bỏ nhà ra đi đến khi nào bà muốn, sau khi ông hết bệnh ông sẽ xem xét lại việc ly hôn với T. Nếu bà T đồng ý trở về thì ông sẽ cố gắng kiếm thêm thu nhập để gia đình bớt khó khăn. Hiện tại ông bán vé số mỗi tháng thu nhập khoảng 4 đến 5 triệu.

Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T thì:

Về con chung: Ông và bà T có hai con chung là trẻ Lê Thị Hà T, sinh ngày 10/01/2004 và trẻ Lê Hữu N, sinh ngày 25/4/2010. Hiện tại hai trẻ đang sống cùng bà T. Do hai con có nguyện vọng được ở cùng bà T nên ông đồng ý giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung giữa ông và bà T. Ông và bà T chung sống không có nợ chung.

Ngoài ra, ông không có ý kiến yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hữu T. Đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Lê Hữu T cư trú tại nhà không số, tổ 13 (nay là tổ 8), ấp 4A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Hữu T sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đào V, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trước Tòa hôm nay, bà T xác định bà và ông T mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông T để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà T khai vợ chồng bà mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung, không cùng nhau chia sẻ được khó khăn trong cuộc sống. Tại công văn số 2339/UBND ngày 05/6/2020 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B đã xác nhận bà T và ông T hiện tại không còn chung sống với nhau và đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018, khi còn sống chung bà T và ông T có phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, bà T và ông T cùng xác nhận ông bà hiện đang sống ly thân. Điều này chứng tỏ giữa bà T và ông T không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông T.

Về con chung: Bà T và ông T xác định ông bà có 02 (hai) con chung là trẻ Lê Thị Hà T, sinh ngày 10/01/2004 và trẻ Lê Hữu N, sinh ngày 25/4/2010.

Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến của trẻ T và trẻ N lập ngày 15/5/2020 thì trẻ T và trẻ N xác nhận hiện tại hai trẻ đang sống cùng bà T và cùng có nguyện vọng tiếp tục được sống cùng với bà T.

Tại công văn số 2339/UBND ngày 05/6/2020 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B đã xác nhận trẻ T và trẻ N đang sống cùng bà T.

Do bà T và ông T cùng thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con chung, việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện và không trái luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao trẻ T và trẻ N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà T và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông T.

Về tài sản chung: Bà T và ông T xác nhận ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

Về nợ chung: Bà T và ông T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

Cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Lê Hữu T.

Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Đào V, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 06/02/2003 không còn giá trị pháp lý.

2.

Về con chung: Giao trẻ Lê Thị Hà T, sinh ngày 10/01/2004 và trẻ Lê Hữu N, sinh ngày 25/4/2010 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Lê Hữu T.

Ông T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

4.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0078823 ngày 23/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà T đã nộp đủ án phí.

5.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, ông Lê Hữu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ