vanban.org

Bản án 773/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Ngọc G:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Ngọc G được ly hôn với ông Nguyễn Minh H Giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/01/2011 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Ngọc G:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 773/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/08/2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Dòn 2. Bà Trần Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền - Kiểm sát viên Ngày 09 tháng 08 năm 2022 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/06/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 203/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13/07/2022, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc G, sinh năm: 1991, (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Đường L, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1987, (vắng mặt) Địa chỉ: Đường B, ấp H, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/12/2021 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Phạm Ngọc G trình bày:

Bà và ông Nguyễn Minh H tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2011, đôi bên có tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng đã ly thân được 06 năm. Do tình cảm đối với nhau không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hải M, nữ, sinh ngày 13/11/2011. Khi ly hôn bà G đồng ý giao trẻ M cho ông H nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Minh H đã được Tòa án nhân dân huyện B tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Bà Phạm Ngọc G yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh H. Đây là tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện B, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B.

Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà G theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hình thức: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/01/2011 thì bà Phạm Ngọc G và ông Nguyễn Minh H là vợ chồng được pháp luật công nhận.

Về nội dung: Xét lời trình bày của bà Phạm Ngọc G nhận thấy giữa bà G với ông H trước khi kết hôn đã có thời gian quen biết và tìm hiểu nhau nên hôn nhân giữa đôi bên là hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chung sống không có hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tình tình không hợp và đã ly thân được 06 năm nên bà G yêu cầu ly hôn với ông H để sớm ổn định cuộc sống. Việc này phù hợp với kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B là bà Phạm Ngọc G với ông Nguyễn Minh H không còn chung sống với nhau và đã ly thân vào tháng 03 năm 2017.

Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Nguyễn Minh H đến Tòa để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H không đến. Hai lần triệu tập đến tham gia phiên Tòa ông H vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy ông H đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Hội đồng xét xử thấy rằng giữa bà G và ông H có mâu thuẫn xảy ra trong cuộc sống, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc nên bà G yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hải M, nữ, sinh ngày 13/11/2011. Hiện tại trẻ M đang sống cùng với ông H nên bà G đồng ý để ông H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ M, bà không cấp dưỡng nuôi con. Việc này phù hợp với nguyện vọng của trẻ M. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà G, giao trẻ M cho ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Phạm Ngọc G không đồng ý cấp dưỡng nuôi trẻ M, ông H vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà G. Nếu sau này ông H có yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Bà G có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà G khai nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Ngọc G.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Ngọc G chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Ngọc G:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Ngọc G được ly hôn với ông Nguyễn Minh H

Giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/01/2011 không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Hải M, nữ, sinh ngày 13/11/2011 cho ông Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Ngọc G chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bà Phạm Ngọc G có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Ngọc G xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Phạm Ngọc G chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà G đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0040462 ngày 13/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Bà Phạm Ngọc G đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ