- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Văn B - Trần Quốc K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D; Sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 322/2026/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 772/2026/DS-PT Ngày 28 – 9 – 2026 V/v tranh chấp hụi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Tân
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Thắng - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 542/2026/TLPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2026, về việc “Tranh chấp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 322/2026/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 733/2026/QĐ-PT ngày 07 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Anh Nguyễn Văn B, sinh ngày 08/03/1985; Căn cước công dân xxxxxxxxxxxx cấp ngày 08/04/2025; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
2. Chị Nguyễn Kiều D, sinh ngày 10/03/1990; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/08/2021; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D theo văn bản uỷ quyền ngày 20/7/2026: Ông Đặng Hữu T, sinh ngày 17/11/1968; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 04/12/2022; Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
1. Anh Trần Quốc K, sinh ngày 30/12/1980; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/08/2021; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Chị Huỳnh Thùy L, sinh ngày 04/12/1987; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/08/2021; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D thống nhất trình bày: Trước đây, anh K và chị Lam L1 chủ hụi, anh chị có tham gia trong các dây hụi, cụ thể:
Dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 30/02/2025 âl, mỗi tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 65 phần, anh chị tham gia 04 phần. Quá trình chơi hụi, anh chị đóng được 24 kỳ thì vợ chồng anh K tuyên bố đình hụi vào ngày 30/01/2026 âl. Số tiền vợ chồng anh K nợ anh chị là (1.000.000đ x 24 kỳ) x 04 = 96.000.000đ.
Dây hụi 500.000đ, mở ngày 30/02/2025 âm lịch, mỗi tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 44 phần, anh chị tham gia 02 phần. Quá trình chơi hụi, anh chị đóng được 24 kỳ thì vợ chồng anh K tuyên bố đình hụi vào ngày 30/01/2026 âl. Số tiền vợ chồng anh K nợ anh chị là (500.000đ x 24 kỳ) x 02 = 24.000.000đ.
Dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 15/8/2025 âl, mỗi tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 56 phần, anh chị tham gia 02 phần. Quá trình chơi hụi, anh chị đóng được 11 kỳ thì vợ chồng anh K tuyên bố đình hụi vào ngày 30/01/2026 âl. Số tiền vợ chồng anh K nợ anh chị là (1.000.000đ x 11 kỳ) x 02 = 22.000.000đ.
Dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 15/8/2025 âl, mỗi tháng khui 02 lần, dây hụi gồm 58 phần, anh chị tham gia 02 phần. Quá trình chơi hụi, anh chị đóng được 11 kỳ thì vợ chồng anh K tuyên bố đình hụi vào ngày 30/01/2026 âl. Số tiền vợ chồng anh K nợ anh chị là (1.000.000đ x 11 kỳ) x 02 = 22.000.000đ.
Tổng số tiền hụi mà vợ chồng anh K nợ anh chị là 164.000.000đ. Nay anh chị yêu cầu anh K và chị L trả số tiền thực đóng 83.610.000đ, tiền lãi 15.000.000đ = 98.610.000đ.
- Bị đơn chị Huỳnh Thùy L trình bày: Vợ chồng anh B có tham gia trong các dây hụi do chị làm chủ hụi. Dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 30/02/2025 âl số tiền thực đóng là 11.290.000đ/01 phần; dây hụi 500.000đ, mở ngày 30/02/2025 âl số tiền thực đóng là 7.370.000đ/01 phần; dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 15/8/2025 âl số tiền thực đóng là 5.400.000đ/01 phần; dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 15/8/2025 âl số tiền thực đóng là 5.290.000đ/01 phần. Tổng số tiền thực đóng 81.280.000đ. Nay chị đồng ý trả cho anh B và chị D số tiền 96.280.000đ.
- Bị đơn anh Trần Quốc K trình bày: Việc chị L mở các dây hụi mà anh B, chị D có tham gia thì anh không biết. Hiện anh với chị L đã ly hôn. Do đó, số tiền nợ hụi nêu trên thì anh không biết. Nay anh không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 322/2026/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D.
1. Buộc chị Huỳnh Thùy L phải có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D số tiền 98.610.000 đồng (chín mươi tám triệu sáu trăm mười ngàn đồng).
Kể từ ngày anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Huỳnh Thùy L chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng chị L còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27 tháng 7 năm 2026 anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D kháng cáo yêu cầu buộc anh Trần Quốc K liên đới cùng chị Huỳnh Thùy L trả nợ hụi cho anh B, chị D. Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của anh B, chị D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự thực hiện đúng pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D; Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 322/2026/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn anh Nguyễn Văn B, chị Nguyễn Kiều D và bị đơn chị Huỳnh Thùy L thống nhất xác định anh B và chị D tham gia chơi hụi do chị Lam làm chủ hụi của 04 dây hụi, trong đó 02 dây hụi mở ngày 30/02/2025 âm lịch và 02 dây hụi mở ngày 15/8/2025 âm lịch, cả 04 dây hụi đã đình hụi vào ngày 30/01/2026. Sau khi đình hụi, chị L còn nợ tiền hụi anh B, chị D tổng số tiền là 98.610.000 đồng. Bản án sơ thẩm buộc chị L có trách nhiệm trả tiền hụi cho anh B, chị D tổng số tiền 98.610.000 đồng, chị L không kháng cáo.
Xét kháng cáo của anh B, chị D yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc anh K phải liên đới cùng chị L chịu trách nhiệm trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại đơn khởi kiện, tại Biên bản phiên toà sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, vợ chồng anh B, chị D yêu cầu vợ chồng anh K, chị L cùng trả nợ hụi. Xét thấy, thời điểm mở hụi thì anh K và chị L là vợ chồng hợp pháp, cùng nhau mở các dây hụi mục đích có thu nhập để phục vụ nhu cầu thiết yếu trong gia định. Đến ngày 09/12/2025 anh K, chị L mới thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 162/2025/QĐST-HNGĐ của Toà án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau. Như vây, trong suốt quá trình mở hụi thì anh K và chị L là vợ chồng cùng nhau mở các dây hụi, nên phải chịu trách nhiệm liên đới về các khoản nợ hụi.
Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia định: “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh B, chị D về việc buộc anh K và chị L liên đới trả nợ hụi cho anh B, chị D là phù hợp.
Hiện nay do anh K và chị L đã thuận tình ly hôn, nên cần buộc anh K và chị L mỗi người chịu ½ của tổng số nợ hụi 98.610.000 đồng, nên anh K và chị L mỗi người phải có trách nhiệm trả nợ hụi cho vợ chồng anh B, chị D là 49.305.000 đồng.
Do có căn cứ sửa bản án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cũng được điều chỉnh theo quy định pháp luật. Theo đó, chị L và anh K mỗi người phải chịu án phí sơ thẩm là 2.465.250 đồng.
Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D; Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Sửa bản án sơ thẩm số: 322/2026/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau là có căn cứ nên được chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D không phải chịu; anh B, chị D mỗi người nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng được hoàn lại.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D; Sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 322/2026/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D đối với anh Trần Quốc K và chị Huỳnh Thùy L.
Buộc chị Huỳnh Thùy L phải có nghĩa vụ trả tiền hụi cho anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D số tiền 49.305.000 đồng (bốn mươi mươi chín triệu ba trăm lẻ năm nghìn đồng).
Buộc anh Trần Quốc K phải có nghĩa vụ trả tiền hụi cho anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D số tiền 49.305.000 đồng (bốn mươi mươi chín triệu ba trăm lẻ năm nghìn đồng).
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D không phải chịu; anh B, chị D đã nộp tạm ứng án phí 4.100.000 đồng theo Biên lai thu số 0007504 ngày 08 tháng 06 năm 2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau, được hoàn lại. Chị Huỳnh Thùy L và anh Trần Quốc K mỗi người phải chịu án phí 2.465.250 đồng.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Kiều D không phải chịu; anh B, chị D mỗi người đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001264, 0001265 cùng ngày 21/7/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Cà Mau; - TAND khu vực 4 - Cà Mau; - THADS khu vực 4 - Cà Mau; - Đương sự; - Lưu, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thanh Dũng |