- Tranh chấp gì? "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phát T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự nghĩ; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án : 77/2019/HS-ST Ngày : 24-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thủy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện VKSND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 TP. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
TRẦN PHÁT T, sinh năm 1989; tại Long An; nơi cư trú: KP4 (số cũ KP1), thị trấn H, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; chỗ ở: Phòng 15 Chung cư T, Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: đầu bếp; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị K (chết); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2019 đến ngày 28/5/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày; bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1984.
Cư trú: số 48/4A Khu phố 4, phường H, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
2. Ông Lê Tấn Đ, sinh năm 1983.
Cư trú: số 16/82 đường N, Phường 2, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 19/5/2019, sau khi đi uống rượu, Trần Phát T về nhà tại Chung cư T, Phường 2, Quận 3 thì chung cư đã đóng cửa nên gọi người ra mở cửa, do không thấy mở cửa nên T dùng chân đạp vào cửa và la hét ồn ào. Thấy vậy, bà Nguyễn Tuyết Thanh là bảo vệ tại Chung cư T đã gọi điện báo Công an Phường 2, Quận 3 xuống làm việc. Khi ông Phạm Văn L (cảnh sát khu vực, phụ trách khu vực Chung cư T) và ông Lê Tấn Đ (bảo vệ dân phố) được Ban chỉ huy Công an Phường 2 phân công xuống Chung cư T làm việc thì thấy Trần Phát T đang trong tình trạng say xỉn và lớn tiếng gây ồn ào tại cửa ra vào chung cư. Ông Đ và ông L đến mời T về Công an Phường 2 làm việc, thì T không chấp hành mà có lời nói thô tục và dùng chân đạp vào người ông Đ làm ông Đ bị té ngã. Thấy vậy, ông L đến can ngăn thì bị T túm cổ áo làm đứt nút áo và cầu vai bên phải của anh L. Ông L và ông Đ khống chế T về trụ sở Công an Phường 2, Quận 3 thì T tiếp tục chống cự, dùng chân đạp vào bụng anh Đ làm anh Đ té vào mép tường. Sau đó, được người dân hỗ trợ đã khống chế T đưa về Công an Phường 2, Quận 3 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 xử lý.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Trách nhiệm dân sự: Ông Đ và ông L không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS-HS ngày 12/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an Phường 2, Quận 3 lập ngày 20/5/2019; phù hợp nội dung các lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nhân chứng cùng các T liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, đã có đủ cơ sở kết luận như sau:
Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 19/5/2019, Trần Phát T về nhà tại chung cư T, Phường 2, Quận 3 do say rượu và thấy chung cư đã đóng cửa, do không thấy mở cửa nên T dùng chân đạp vào cửa và la hét ồn ào, gây mất trật tự. Khi ông Phạm Văn L (cảnh sát khu vực, phụ trách khu vực chung cư T) và ông Lê Tấn Đ (bảo vệ dân phố) đến mời T về Công an Phường 2, Quận 3 làm việc thì T không chấp hành mà có lời nói thô tục và dùng chân đạp vào người ông Đ làm ông Đ bị té ngã và làm đứt nút áo và cầu vai bên phải của ông L. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra
Xét bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn nhận tội và có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Xét phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng và hiện bị cáo đang được tại ngoại, trong thời gian tại ngoại bị cáo không có vi phạm điều gì. Do đó, áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự nghĩ không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sau này
Trách nhiệm dân sự: Ông Lê Tấn Đ và ông Phạm Văn L không có yêu cầu bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Phát T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Phát T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao Trần Phát T cho Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 3 giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
| Nơi nhận : - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Q.3; - Công an Q.3; - Nhà tạm giữ CAQ.3; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS Q.3; - UBND P.2, Q.3, TP. HCM; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huệ Chi |