- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoài V - đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoài V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và tội “Đe dọa giết người”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2026/HS-ST Ngày: 21 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN KHU VỰC 2 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Anh Vũ.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dƣ Công Thử;
2. Bà Hồ Thị Cẩm Nhung;
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Tuấn – là Thư ký của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Hoài V, (tên gọi khác: Ú), sinh năm 1995 tại Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú: Tổ A, thôn B, xã H, tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú hiện nay: thôn C, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm: 1959 và bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1961; có vợ là Phạm Thị N (đã ly hôn năm 2025) nhưng chưa có con; tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: 28/5/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 năm tù về tội “Giết người”; ngày 22/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; ngày Bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam Đ, Trại tạm giam số 1 công an tỉnh L từ ngày 21/10/2025 cho đến nay (có mặt).
Người bị hại:
1. Chị Phạm Thị N, sinh năm: 1997; địa chỉ: A thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1979; địa chỉ: A thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
3. Anh Phạm Văn L1, sinh năm: 1994; địa chỉ: A thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
4. Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1970; địa chỉ: A thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm: 1983; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Người làm chứng:
1. Chị Mai Thị Đ (vợ anh Phạm Văn L1), sinh năm: 1997; địa chỉ: A thôn K, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
2. Ông Lê Văn H, sinh năm: 1959; địa chỉ: Tổ D, thôn C, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
3. Anh Lê Hoài D, sinh năm: 1987; địa chỉ: Tổ D, thôn C, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nên ngày 15/7/2025, Phạm Thị N và Lê Hoài V xảy ra mâu thuẫn với nhau nên N bỏ đi. Vũ nghĩ N về nhà mẹ đẻ ở số A, thôn K, xã Đ nên khoảng 02 giờ 30 phút rạng sáng ngày 16/7/2025 V đi đến nhà của bố mẹ N tại A, thôn K Mới để tìm N nói chuyện. Sau khi V đi tìm thì N biết thông tin nên gọi điện thoại cho gia đình N thông báo là V sẽ đến nhà quậy phá và làm hại người nhà của N nên nói gia đình của N là bố, mẹ và anh trai N rời khởi nhà để né tránh V. Vì vậy bà H1 (mẹ N), anh L1 (anh trai N) và bố của N phải đi ra khỏi nhà và trốn ở vườn bắp gần nhà. Khi V đến nhà thấy khoá cửa nên Vũ nhặt hộp keo silicon gần đó đập bể 01 cửa kính phía trước và mở cửa đi vào nhà tìm N. Do không tìm thấy N và gia đình N nên V đi về. Khi đi về tới nhà của V thì V thấy xe mô tô BS: 49F1 – 33961, hiệu Airblade, màu sơn đỏ (xe này N mượn của anh trai ruột là Phạm Văn L1 để sử dụng), do tức giận nên V đã rút xăng từ xe mô tô của bố V ra rồi dắt xe mô tô BS: 49F1 33961 của N ra trước sân nhà, Vũ T2 xăng lên xe mô tô của N rồi dùng quẹt ga đốt cháy xe, khi xe bị cháy thì bố V là ông Lê Văn H và anh trai V là Lê Hoài D dùng nước dập lửa, sau đó V đi ngủ. Đến tối ngày 16/7/2025 V nhắn tin, gọi điện thoại cho N nhưng không được nên V nhắn tin cho mẹ N là bà Nguyễn Thị H1 với nội dung tin nhắn đe doạ sẽ làm hại gia đình bà H1. Nội dung tin nhắn thể hiện "...vì con gái bà k nghe đt của tôi. Bama tôi gọi nó cũng k về. Tôi sẽ cho nó thấy hậu quả nó tới đâu, từ giờ ý nghĩa để tôi còn sống là lùng bằng được gđ của bà thôi...”. Đến ngày 21/7/2025, V mang theo 01 con dao rựa và 01 con dao tự chế đi đến nhà của bố mẹ N để hù doạ gia đình N nhưng do nhà khoá cửa không có ai ở nhà nên V quay về nhà. Ngày 18/7/2025 V nhắn tin với nội dung đe doạ sẽ giết hại cả gia đình của N với nội dung tin nhắn "...mấy hôm nay t ăn uống ngủ nghỉ nhiều lắm. m biết để làm j k. Để có sức khoẻ đâm chém thêm chứ yếu quá sợ dứt nhau với thằng L1 là hết sức r. nên phải ăn uống ngủ nghi tý t tập thể dục nữa. chỉ cần thịt đc thằng L1 với ông già r bà già con duong thằng K với 2 đứa nhỏ thì đơn giản r.t mà dính 5-7 dao thì vẫn còn sức để đâm chém tiếp.kkk...". Đến ngày 20/10/2025 V đi mua xăng đổ vào 11 ly thuỷ tinh và 04 chai nhựa để làm bom xăng tự chế với mục đích mang đến nhà bà H1 hù doạ gia đình N, buộc N phải ra nói chuyện với V và quay về sống cùng V. Thực hiện ý định đó, rạng sáng ngày 21/10/2025 V mang theo 11 ly thuỷ tinh và 04 chai nhựa chứa xăng bỏ vào 01 túi xách và mang theo 04 con dao đến nhà của bố mẹ N. Do còn sớm (khoảng 04 giờ sáng) nên V bỏ túi xách chứa xăng ở mảnh đất gần nhà của bố mẹ N rồi mang theo 04 con dao trèo lên tường nhà bên cạnh để đi vào phía sau nhà của bà H1 (mẹ N) và ngồi chờ với mục đích trời sáng sẽ đe doạ gia đình N. Khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, khi bà H1 mở cửa phía sau nhà ra, lúc này V một tay cầm 02 con dao, tay còn lại cầm 01 con dao lao vào dùng hai tay đang cầm dao ôm bà H1 lại với mục đích đe doạ bà H1 buộc N phải gặp V để nói chuyện. Khi Vũ ôm bà H1 lại thì bà H1 dùng tay giằng co con dao với V và bà H1 la lên thì N và L1 từ trong nhà chạy ra xông vào giằng co với V, trong lúc giằng co thì N bị thương nhẹ ở tay, sau đó V bị gia đình N khống chế và báo công an, sau đó V bị Cơ quan CSĐT công an tỉnh L bắt giữ cùng tang vật là 11 ly thuỷ tinh chứa xăng và 04 chai nhựa chứa xăng, 04 con dao. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 3188/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng kết luận:
- Tấm kính thuỷ tinh chắn cửa, loại kính thuỷ tinh thông thường, kích thước 60cmx180cm, độ dày 04mm có giá trị thiệt hại là: 577.000₫ (Năm trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
- Xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu đỏ, biển số 49F1-399.61 có giá trị thiệt hại là: 5.912.000đ (Năm triệu chín trăm mười hai nghìn đồng). Tại Bản kết luận vũ khí trong lĩnh vực súng đạn số 1595/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 01 năm 2026 của Phòng PC09- Công an tỉnh L kết luận: + Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong 11 ly thuỷ tinh được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần xăng. + Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong 01 chai nhựa không nhãn hiệu loại chai thể tích 1,5 lít được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần xăng. + Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong 01 chai nhựa nhãn hiệu chinsu nam ngư ghi thể tích 300ml được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần xăng. + Chất lỏng màu đỏ nhạt đựng trong 01 chai nhựa nhãn hiệu Lò rượu gạo nguyên chất Lan A ghi thể tích 500ml được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần xăng. + Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong 01 chai nhựa không nhãn hiệu loại chai thể tích 500ml được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần xăng. Xăng là hàng hoá nguy hiểm về cháy, nổ (quy định tại khoản 9, Điều 2, luật số 55/2024/QH15). Tại Bản kết luận vũ khí trong lĩnh vực súng đạn số 1596/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 12 năm 2025 của Phòng PC09- Công an tỉnh L kết luận:
- 01 (một) con dao có tổng chiều dài 114cm, cán bằng tre, hình trụ tròn dài 81cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm, bản rộng 05cm là Dao sắc nhọn thuộc phụ lục 5 danh mục Dao có tính sát thương cao ban hành theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ C.
- 01 (một) con dao có tổng chiều dài 133cm, cán bằng tre, hình trụ tròn được quấn băng keo đen, dài 91cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, bản rộng 05cm là Dao tự chế, hoán cải thuộc phụ lục 5 danh mục Dao có tính sát thương cao ban hành theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ C.
- 01 (một) dao bầu có lưỡi dao dài 17cm mũi dao nhọn, cán bằng gỗ hình trụ tròn 11cm Dao sắc nhọn thuộc phụ lục 5 danh mục Dao có tính sát thương cao ban hành theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ C. Còn lại 01 (một) dao cán nhựa màu vàng có mũi nhọn, phần cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, mũi nhọn (lưỡi dao bị cong); 01 (một) cán dao nhựa màu vàng dài 10cm và 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm và 01 (một) dao cán nhựa màu vàng có mũi nhọn, phần cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm đều là dao không thuộc các loại danh mục ban hành theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ C.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSLDG-KV ngày 03/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lê Hoài V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 và tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoài V thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng truy tố đối với bị cáo.
Bị hại anh Phạm Văn L1 trình bày: Khoảng 06 giờ sáng ngày 21/10/2025, anh nghe tiếng mẹ là bà H1 la hét phía sau nhà nên chạy ra và phát hiện Lê Hoài V đang cầm trên hai tay 03 con dao (01 dao bầu, 02 dao cán vàng) để khống chế, kề dao vào cổ bà H1. Anh L1 cùng chị N đã lao vào vật ngã, giằng co hung khí và khống chế thành công V, sau đó báo Công an xã Đ đến xử lý. Theo anh L1, nguyên nhân là do mâu thuẫn vợ chồng nên V muốn dùng dao đe dọa, ép buộc chị N phải quay về chung sống. Gia đình anh L1 đã có sự cảnh giác từ trước do nhận được điện thoại cảnh báo từ bố và chị gái của V về việc V mang theo dao và xăng đến để gây án. Hậu quả của vụ việc khiến bà H1 bị thương ở vùng mắt, còn chị N bị thương ở tay và vai trong quá trình khống chế bị cáo.
Bị hại bà Nguyễn Thị H1 trình bày: bà cho biết do chị N (con gái bà) phát hiện Lê Hoài V có quan hệ bất chính nên bỏ về nhà cha mẹ đẻ. Đỉnh điểm từ đêm 15/7/2025, sau khi V đập phá cửa kính đột nhập vào nhà, bà H1 và gia đình đã phải sống trong trạng thái kinh hoàng suốt thời gian dài. V liên tục nhắn tin cho bà H1, chị N và anh L1 với những lời lẽ tàn độc, khẳng định ý nghĩa sống duy nhất là "lùng" bằng được gia đình bà, sẵn sàng "thịt" từng thành viên từ người già đến trẻ nhỏ, thậm chí tuyên bố "càng đông càng lời" và sẽ khiến chị N phải sống trong ân hận suốt đời. Bà và người thân hoàn toàn tin rằng bị cáo sẽ thực hiện các lời đe dọa này, buộc cả gia đình phải bỏ nhà đi thuê nơi khác lẩn trốn tại xã H và luôn trong tình trạng đóng cửa sớm, cảnh giác cao độ khi quay về. Sự lo sợ đó đã trở thành hiện thực vào khoảng 06 giờ sáng ngày 21/10/2025, khi bà H1 vừa ra sau nhà thì bị V phục kích, lao đến dùng dao Thái Lan khống chế vùng cổ và tay còn lại cầm dao bầu kề sát. Trong cơn hoảng loạn vì tin rằng V sẽ tước đoạt mạng sống của mình như đã đe dọa trước đó, bà H1 đã liều mình dùng tay giữ chặt hung khí và la hét dữ dội để anh L1 và chị N chạy ra ứng cứu, khống chế bị cáo giao cho công an. Bà đồng ý với các kết luận giám định và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại chị Phạm Thị N trình bày: chị và Lê Hoài V phát sinh mâu thuẫn vợ chồng do chị phát hiện chồng ngoại tình vào tháng 6/2024 và thường xuyên bị V đánh đập, đe dọa. Vào ngày 16/7/2025, sau khi đi nhậu về với biểu hiện bất thường, V đã mài dao và đe dọa giết chị ngay trong phòng ngủ. Quá sợ hãi, chị N phải bỏ trốn về nhà bố mẹ đẻ, nhưng V vẫn không buông tha mà tiếp tục mang dao đến tìm, đập phá cửa kính và rạch màn giường ngủ của chị để dằn mặt. V còn rút xăng đốt cháy chiếc xe máy Airblade mà chị N mượn của anh trai Phạm Văn L1 làm phương tiện đi lại. Xuyên suốt thời gian sau đó, V liên tục gửi những tin nhắn khủng bố tinh thần qua Z và Facebook cho chị và người thân với nội dung cực kỳ tàn ác: tuyên bố sẽ giết chết chị nếu muốn "giải thoát", đe dọa "thịt" toàn bộ gia đình chị và khẳng định sẽ khiến chị phải sống trong ân hận cả đời. Những hành động và lời đe dọa này khiến chị N rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm trọng, cả gia đình phải bỏ nhà đi lẩn trốn vì tin rằng với bản tính hung hãn đó thì V sẽ thực hiện hành vi giết người như đã tuyên bố. Chị N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Bà Nguyễn Thị Hồng T1 khai: bà là dì của bị cáo. Bà xác nhận Lê Hoài V đã đến nhà bà tại thôn Đ, xã Đ để xin ở nhờ từ ngày 19/10/2025. Trong thời gian này, V có hỏi mượn một số ly thủy tinh và dao; do gia đình làm nghề nấu ăn và nghĩ Vũ mượn để đi nhậu với bạn bè nên bà T1 đã đồng ý. Qua kiểm kê, bà xác định V đã lấy đi khoảng 10 ly thủy tinh và 01 con dao bầu. Đến rạng sáng ngày 21/10/2025, V lặng lẽ rời đi mà không thông báo, sau đó bà mới nghe tin V mang số vật dụng này đến nhà vợ quậy phá. Bà T1 khẳng định hoàn toàn không biết việc V dùng số ly và dao mượn được để chế tạo "bom xăng" hay đi đe dọa người khác. Do giá trị tài sản không lớn và đã đồng ý cho mượn từ trước, bà T1 không yêu cầu bồi thường hay nhận lại các vật chứng này, đồng thời mong cơ quan chức năng xử lý vụ việc theo quy định pháp luật.
Người làm chứng là ông Lê Văn H (bố đẻ của bị cáo) và anh Lê Hoài D (anh trai bị cáo) xác nhận vào tối ngày 15/7/2025, sau khi xảy ra mâu thuẫn cãi vã khiến chị N bỏ về nhà ngoại, Lê Hoài V đã tỏ ra vô cùng hung hãn, bật nhạc lớn và mài dao đe dọa. Đến rạng sáng ngày 16/7/2025, V tuyên bố sẽ vào nhà bố mẹ vợ để quậy phá và "giết hết cả nhà" nhằm khiến chị N phải hối hận. Dù ông H và anh D đã đi theo can ngăn nhưng V vẫn quyết liệt trèo rào vào nhà ông T, bà H1, dùng hộp keo silicon đập vỡ cửa kính để đột nhập tìm vợ. Sau khi không tìm thấy ai và quay trở về nhà, V tiếp tục thực hiện hành vi dắt chiếc xe máy Airblade (tài sản của anh L1 cho chị N mượn) ra sân, tự tay rút xăng từ một xe máy khác đổ lên đầu xe rồi châm lửa đốt. Ông H và anh D là người trực tiếp dùng vòi nước dập lửa và sau đó ông đã gọi điện thông báo sự việc cho anh L1. Tiếp đó, vào ngày 21/7/2025, ông H lại chứng kiến V mang theo một con dao rựa và một con dao phát dài hơn 1m đi về hướng nhà bố mẹ vợ nên đã kịp thời gọi điện báo tin cho chị N cảnh giác. Ông H cũng xác nhận việc con dâu kể lại việc V thường xuyên nhắn tin đe dọa giết cả gia đình bị hại.
Tại phiên tòa, ông Phạm Văn T thống nhất với ý kiến của bà H1. Ông T và bà H1 không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường thiệt hại đối với tấm kính bị đập vỡ. Anh Phạm Văn L1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do bị cáo đã làm hư hỏng xe mô tô của anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 và tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 178, điểm a khoản 2 Điều 133; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 55 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoài V từ 02 đến 03 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và từ 03 đến 04 năm tù về tội “Đe dọa giết người”. Áp dụng điều 55 Tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 05 Đến 07 Năm tù; Về trách nhiệm dân sự, do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến; Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì về mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lê Hoài V tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng, các biên bản định giá tài sản, kết luận giám định hung khí và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:
Về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”: Do mâu thuẫn vợ chồng với chị N nên vào rạng sáng ngày 16/7/2025, bị cáo V đã có hành vi dùng hộp keo silicon đập vỡ 01 tấm kính cửa nhà ông T, bà H1 (trị giá 577.000đ). Sau đó, bị cáo tiếp tục dùng xăng là chất nguy hiểm về cháy nổ để đốt cháy xe mô tô BKS 49F1-339.61 của anh Phạm Văn L1 (thiệt hại 5.912.000đ). Tổng giá trị thiệt hại là 6.489.000đ. Hành vi dùng xăng đốt xe tại sân nhà của bị cáo là thủ đoạn nguy hiểm, đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Về hành vi “Đe dọa giết người”: Từ tháng 7/2025 đến tháng 10/2025, bị cáo liên tục nhắn tin cho chị N, bà H1 và anh L1 với nội dung đe dọa tước đoạt tính mạng của cả gia đình. Đỉnh điểm là rạng sáng ngày 21/10/2025, bị cáo mang theo 15 "bom xăng" tự chế và 04 con dao, đột nhập vào nhà bà H1 và dùng dao khống chế bà H1 nhằm ép chị N quay về. Hành vi của bị cáo diễn ra quyết liệt, kéo dài, có sự chuẩn bị công cụ phương tiện nguy hiểm, khiến các bị hại luôn trong trạng thái hoảng loạn, lo sợ tính mạng bị xâm phạm. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đe dọa giết người" đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản mà còn xâm phạm đến an toàn tính mạng, sức khỏe của nhiều người, gây mất ổn định trật tự trị an tại địa phương. Đặc biệt, bị cáo thực hiện hành vi với tính chất hung hãn, coi thường pháp luật. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội đồng thời có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung loại tội phạm này tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo liên tục thực hiện chuỗi hành vi đe dọa và cố ý làm hư hỏng tài sản ở các thời điểm khác nhau. Đặt biệt, đối với tội đe doạ giết người bị cáo đã chuẩn bị bom xăng xăng và dao, kết quả giám định xăng là hàng hoá nguy hiểm về cháy, nổ quy ịnh tại khoản 9, Điều 2, luật số 55/2024/QH15. Kết quả giám định hung khí xác định dao mà V sử dụng thuộc phụ lục 5 danh mục Dao có tính sát thương cao ban hành theo thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ C. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội quy định tại điểm n khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn L1, ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Hồng T1 xác định khi bị cáo lưu trú tại nhà bà T1 từ ngày 19/10/2025 đến ngày 21/10/2025, bà không biết bị cáo đã lấy đi 10 (mười) chiếc ly thủy tinh cùng 01 (một) con dao bầu. Bà cũng không biết bị cáo sử dụng các tài sản này vào mục đích phạm tội. Bà khẳng định các tài sản trên có giá trị không lớn, bà không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường hay hoàn trả lại các đồ vật này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét trách nhiệm dân sự của bị cáo Lê Hoài V đối với bà Nguyễn Thị Hồng T1 trong vụ án này.
Về vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xám, bên trong có gắn thẻ sim số 0917365119. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi nhắn tin, gọi điện đe dọa giết người đối với các bị hại. Do là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) tua vít, chiều dài 20 cm, cán trụ hình tròn, dài 10cm, đầu tua vít hình lục giác, chất liệu kim loại, dài 10cm; 01 (một) con dao có tổng chiều dài 114cm, cán bằng tre, hình trụ tròn dài 81cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm, bản rộng 05cm; 01 (một) con dao có tổng chiều dài 133cm, cán bằng tre, hình trụ tròn; 01 (một) túi xách bằng vải màu đen có sọc trắng để đựng là tài sản của Lê Hoài V sử dụng để đựng bom xăng tự chế; 11 (mười một) ly thủy tinh bên trong chứa chất lỏng màu vàng nhạt và miệng ly thủy tinh được bọc kín miệng bằng bọc nilon màu trắng và được cột bằng dây (cụ thể: 04 ly thủy tinh không ghi nhãn hiệu cao 11cm x 6cm; 01 ly thủy tinh không ghi nhãn hiệu cao 15cm x 6cm; 03 ly thủy tinh nhãn hiệu Trung Tín cao 12 cm x 6,5cm; 03 ly thủy tinh nhãn hiệu Điều hòa Coffe cao 11cm x 6cm); 01 (một) chai nhựa không nhãn hiệu loại chai thể tích 1,5 lít bên trong chứa chất lỏng màu vàng nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Chinsu nam ngư ghi thể tích 300ml bên trong chứa chất lỏng màu vàng nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Lò rượu gạo nguyên chất Lan A ghi thể tích 500ml bên trong chứa chất lỏng màu đỏ nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) chai nhựa không nhãn hiệu loại chai thể tích 500ml bên trong chứa chất lỏng màu đỏ nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) áo thun ba lỗ bằng vải màu đen (trên áo ghi nhãn hiệu MRTWINS FASHION FORMER): Là tài sản của Lê Hoài V. Lê Hoài V cắt chiếc áo trên thành nhiều mảnh vải nhỏ để làm nút chai nhựa; 01 (một) dao cán nhựa màu vàng có mũi nhọn, phần cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, mũi nhọn (lưỡi dao bị cong); 01 (một) dao cán nhựa màu vàng có mũi nhọn, phần cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm; 01 (một) dao cán nhựa màu vàng (quá trình giằng co thì bị gãy thành 01 (một) cán dao nhựa màu vàng dài 10cm, 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm) là tài sản của Lê Hoài V mua để sử dụng; 01 (một) dao bầu có lưỡi dao dài 17cm mũi dao nhọn, cán bằng gỗ hình trụ tròn 11cm Hội đồng xét xử xét thấy đây là những chất hoặc hung khí nguy hiểm về cháy nổ, có tính sát thương cao, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, không còn giá trị sử dụng và đều là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoài V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và tội “Đe dọa giết người”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoài V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 133, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm n khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoài V 03 (ba) năm tù về tội “Đe dọa giết người”.
Áp dung điều 55 Bộ luật hình sự, Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/10/2025).
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xám, bên trong có gắn thẻ sim số 0917365119 (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/4/2026 tại trụ sở Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Lâm Đồng).
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) tua vít, chiều dài 20 cm, cán trụ hình tròn, dài 10cm, đầu tua vít hình lục giác, chất liệu kim loại, dài 10cm; 01 (một) con dao có tổng chiều dài 114cm, cán bằng tre, hình trụ tròn dài 81cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm, bản rộng 05cm; 01 (một) con dao có tổng chiều dài 133cm, cán bằng tre, hình trụ tròn; 01 (một) túi xách bằng vải màu đen có sọc trắng để đựng là tài sản của Lê Hoài V sử dụng để đựng bom xăng tự chế; 11 (mười một) ly thủy tinh bên trong chứa chất lỏng màu vàng nhạt và miệng ly thủy tinh được bọc kín miệng bằng bọc nilon màu trắng và được cột bằng dây (cụ thể: 04 ly thủy tinh không ghi nhãn hiệu cao 11cm x 6cm; 01 ly thủy tinh không ghi nhãn hiệu cao 15cm x 6cm; 03 ly thủy tinh nhãn hiệu Trung Tín cao 12 cm x 6,5cm; 03 ly thủy tinh nhãn hiệu Điều hòa Coffe cao 11cm x 6cm); 01 (một) chai nhựa không nhãn hiệu loại chai thể tích 1,5 lít bên trong chứa chất lỏng màu vàng nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Chinsu nam ngư ghi thể tích 300ml bên trong chứa chất lỏng màu vàng nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) chai nhựa nhãn hiệu Lò rượu gạo nguyên chất Lan A ghi thể tích 500ml bên trong chứa chất lỏng màu đỏ nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) chai nhựa không nhãn hiệu loại chai thể tích 500ml bên trong chứa chất lỏng màu đỏ nhạt, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải màu đen; 01 (một) áo thun ba lỗ bằng vải màu đen (trên áo ghi nhãn hiệu MRTWINS FASHION FORMER): Là tài sản của Lê Hoài V. Lê Hoài V cắt chiếc áo trên thành nhiều mảnh vải nhỏ để làm nút chai nhựa; 01 (một) dao cán nhựa màu vàng có mũi nhọn, phần cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, mũi nhọn (lưỡi dao bị cong); 01 (một) dao cán nhựa màu vàng có mũi nhọn, phần cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm; 01 (một) dao cán nhựa màu vàng (quá trình giằng co thì bị gãy thành 01 (một) cán dao nhựa màu vàng dài 10cm, 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm) là tài sản của Lê Hoài V mua để sử dụng; 01 (một) dao bầu có lưỡi dao dài 17cm mũi dao nhọn, cán bằng gỗ hình trụ tròn 11cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/4/2026 tại trụ sở Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Lâm Đồng).
4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội buộc bị cáo Lê Hoài V phải chịu 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Đơn Dương; - Phòng THA dân sự KV2-Lâm Đồng; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Lê Đình Anh Vũ - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA Lê Đăng Hiền Lê Văn Hiển | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Lê Đình Anh Vũ |