vanban.org

Bản án 77/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 15/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội“Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Hồng V bị bắt đi chấp hành hình phạt tù. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Đào Đình T đã có đơn bãi nại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng V - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội“Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2026/HS-ST
Ngày: 15-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Trà.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2026/TLST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 213/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng V, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1991; tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 052091023414; nơi cư trú thôn A, xã T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn K, sinh năm 1968 và bà Lê Thị X, sinh năm 1968; vợ là chị Võ Thị T, sinh năm 1993; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24 tháng 10 năm 2012 bị Toà án nhân dân tỉnh B xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 299/HSPT ngày 24 tháng 10 năm 2012, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26 tháng 4 năm 2013, đã nộp xong án phí vào ngày 09 tháng 01 năm 2013; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Anh Đào Đình T, sinh năm 2001; có mặt.

Nơi cư trú: Xóm 3, khu phố L, phường Q, tỉnh Gia Lai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Khưu Thị M, sinh năm 1979; vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 02, phường Q, tỉnh Gia Lai.

Người làm chứng:

- Anh Võ Ngọc H, sinh năm 1998; vắng mặt.

- Anh Hồ Xuân L, sinh năm 1990; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1997; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1996; vắng mặt.

- Anh Lê Minh T1, sinh năm 1999; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 19 tháng 10 năm 2025, bị cáo Nguyễn Hồng V cùng các anh Đào Đình T, Hồ Xuân L, Lê Minh T1 và một số người khác nhậu tại căn tin của Công ty bia Q trong khu Công nghiệp P, địa chỉ phường Q, tỉnh Gia Lai. Trong lúc nhậu, anh L nói bạn của anh L ở xã T, tỉnh Gia Lai có nợ anh L số tiền 5.000.000 đồng nhưng anh L không dám đòi nên nhờ mọi người trong bàn nhậu đòi giúp. Nghe vậy, bị cáo V nói để bị cáo V đòi giúp, nếu được thì anh L cho bị cáo V số tiền 1.000.000 đồng; nghe vậy anh T nói với bị cáo V “Làm gì nhiều tiền vậy”. Sau đó, anh T điện thoại cho các anh Nguyễn Văn Nghĩa, Võ Ngọc Hải đến căn tin Công ty bia Quy Nhơn để nhậu và đi đòi tiền giúp anh L. Bị cáo V nghĩ anh T gọi người đến đánh mình nên bực tức bỏ về. Khoảng 15 giờ cùng ngày, anh L cùng với anh H, anh N và anh T đến nhà bạn của anh L ở xã T để đòi tiền nhưng bạn của anh L đóng cửa nên cả nhóm ghé đến quán nhậu M thuộc thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai để nhậu. Lúc này, bị cáo V cùng các anh Nguyễn Thanh N, Lê Minh T1 và một số người khác đang ngồi nhậu tại quán M nên các anh L, H, N, T vào ngồi cùng bàn với bị cáo V để nhậu chung. Khoảng 05 phút sau, bị cáo V cầm ly bia thuỷ tinh chấm bi, hình trụ, cao khoảng 15 cm, đứng lên mời mọi người trong bàn. Lúc này, anh T đang ngồi phía bên trái bị cáo V, cách bị cáo V khoảng 1,3m; bị cáo V uống xong ly bia thì dùng tay ném ly bia thẳng vào mặt anh T và nói “Mấy thằng bay lên đây ăn tao hé”; anh T bị ném trúng ly bia vào phần trán, ly bia bị vỡ, các mảnh thủy tinh của ly bia đâm trúng vào trán, mặt và vai trái của anh T dẫn đến anh T bị thương tích, chảy máu, ngất xỉu nên các anh N, H đưa anh T đến Trung tâm y tế T cấp cứu, điều trị đến ngày 25 tháng 10 năm 2025 ra viện.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 131A/KLTTCT-PYGL ngày 19 tháng 12 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của anh Đào Định T tại thời điểm giám định là:

- Sẹo rõ vùng trán trái: Tỷ lệ 03%.

- Ba sẹo vùng gò má trái: Tỷ lệ 09%.

- Sẹo rõ vùng dưới mắt phải: Tỷ lệ 03%.

- Ba sẹo vùng mũi. Tỷ lệ 09%.

- Sẹo rõ vai trái: Tỷ lệ 02%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đào Đình T tại thời điểm giám định là 24% (Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành vào ngày 28 tháng 8 năm 2019, quy định chi tiết về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong công tác giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần).

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã truy tìm 01 ly thủy tinh chấm bi bị vỡ, nhưng không thu hồi được.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hồng V đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Đào Đình T số tiền 75.000.000đồng, bị hại anh Đào Đình T có đơn bãi nại về phần dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Hồng V.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSKV2 ngày 11 tháng 5 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm; yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Nguyễn Hồng V nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời luận tội của Kiểm sát viên đã căn cứ vào các chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập và đã được kiểm tra tại phiên tòa để xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19 tháng 10 năm 2025, tại quán nhậu M, địa chỉ thôn N, xã T, tỉnh Gia Lai bị cáo Nguyễn Hồng V đã thực hiện hành vi dùng ly bia thuỷ tinh là hung khí nguy hiểm ném vào mặt của anh Đào Đình T, ly bia bị vỡ các mảnh thuỷ tinh đã đâm trúng vào trán, mặt, mũi và vai trái của anh T gây thương tích đối với anh T. Hành vi của bị cáo đã thực hiện dẫn đến hậu quả anh Đào Đình T bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 24%.

Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Hồng V là người có khả năng nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích đối với người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được hậu quả của hành vi đó sẽ xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Nhận thức được như vậy nhưng vì mâu thuẫn không lớn trước đó nên bị cáo đã thực hiện hành vi dùng ly bia thuỷ tinh là hung khí nguy hiểm ném vào mặt của anh Đào Đình T, ly bia bị vỡ các mảnh thuỷ tinh đã đâm trúng vào trán, mặt, mũi và vai trái của anh T gây thương tích đối với anh T với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 24%. Bị cáo dùng khung khí nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng V đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi cố ý xâm phạm sức khoẻ của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; người bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, lẽ ra xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc nhưng xét thấy bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên; hiện nay bị cáo nuôi 02 người con còn nhỏ; tại phiên toà người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo đã phạm nhằm mục đích cho bị cáo nhận thức được sự khoan hồng của pháp luật để yên tâm chấp hành hình phạt tù; giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn T pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Đào Đình T đã có đơn bãi nại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khưu Thị M không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Hồng V phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi của bị cáo ném ly thuỷ tinh vào trán của anh Đào Đình T làm vỡ ly thuỷ tinh nhưng ly thuỷ tinh có giá trị không lớn; bà Khưu Thị M không yêu cầu xử lý hành vi của bị cáo và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hành vi trên của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng V tại quán nhậu Mn, sự việc xảy ra và kết thúc nhanh, không gian nhỏ, không có sự chuẩn bị trước hung khí để đánh nhau, hành động bộc phát không làm ảnh hưởng đến hoạt động buôn bán bình thường của quán và những người xung quanh, nên không đủ yếu tối cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc so với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Căn cứ vào các điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng V phạm tội“Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Hồng V bị bắt đi chấp hành hình phạt tù.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Đào Đình T đã có đơn bãi nại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khưu Thị M không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng V phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 15 tháng 6 năm 2026). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ