vanban.org

Bản án 77/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H2 tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 77/2026/HS-ST
Ngày 06/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Bà Nguyễn Thị H.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Túy Ph;

2. Ông Huỳnh Hoàng Th.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố U, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị H, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2026/TLST-HS ngày07 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm: 1990; tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là Xóm C, xã Đ, tỉnh Nghệ An); nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày28/8/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Nhân thân: Ngày 01/5/2001 Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đổng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Đã nộp phạt theo biên lai số 0005263 ngày 10/5/2001.

Theo Quyết định số 3029/QĐ-UBND ngày 17/11/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc tập trung bắt buộc đối tượng 06/Cp vào cai nghiện, giáo dục và dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh Đ. Đã chấp hành xong ngày 17/9/2013.

- Bị hại: Ông Trần Đình T, sinh năm 1984; nơi thường trú: Tổ dân phố I mới (15 cũ), thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã H, tỉnh Hà Tĩnh). vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1994; nơi thường trú: Xóm C, xã Đ, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Ấp M, xã M, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

- Bà Đinh Thị Thanh X, sinh năm 1993; nơi thường trú: Tổ F, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) tạm trú: Số A, đường M, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người làm chứng:Trần Đình P. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ngày 19/11/2020, anh Trần Đình T đi đến quán tạp hóa của chịĐinh Thị T1 tại địa chỉ số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) để mua thuốc lá. Sau khi bán thuốc lá cho T thì chị X nói “Anh ơi, anh đánh thằng H1 giùm em với, dạo này nó láo quá”.Nghe X nói vậy thì T nói “Thôi em ơi, anh ăn cơm tù chán rồi”.Sau đó, T bỏ đi về phòng trọ. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, T đi bộ một mình quay lại tạp hóa của chị X để mua nước uống thì nghe tiếng X và H1 đang cãi nhau. T liền đi vào tạp hóa dùng chân đá vào người H1 làm H1 sợ bỏ chạy.Lúc này, T cầm cây phơi đồ đuổi theo H1 khoảng 5m nhưng đuổi không kịp nên T quay lại quán tạp hóa thì X nói với T “Kêu chửi thôi mà đánh nó vậy”. Lúc này, Nguyễn Văn H là anh ruột của Nguyễn Văn H1 đang đi đến cửa hàng tạp hóa của chị X thì thấy T và hỏi T “Tại sao anh lại đánh H1” thì T không trả lời mà cầm dao đâm trúng vào vùng ngực của H. Lúc này, H lùi lại lấy một con dao dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại (loại dao dùng để chặt dừa) ở cửa hàng T5 một nhát trúng vào vùng trán, một nhát vào tay trái, hai nhát chém vào vùng lưng của T, làm T bị thương tích đi cấp cứu tại Bệnh viện tỉnh B còn H bỏ đi khỏi hiện trường.

Ngày 16/12/2021 anh Trần Đình T có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn H.

Ngày 27/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn H, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự. Ngày 28/8/2025, Nguyễn Văn H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H bắt tạm giam cho đến nay.

* Tại bản kết luận tổn thương cơ thể trên hồ sơ số 226/2025/KLGĐ-TTPY ngày 08/5/2025 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương trán -mi trên mắt trái khoảng 10cm, vỡ nứt xương trán trái có mảnh rời kích thước khoảng 2 x 4cm.

- Vết thương vùng cổ sau khoảng 6cm, vết thương vai trái khoảng 6cm, vết thương cánh tay trái khoảng 2cm.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Đình T, qua giám định trên hồ sơ là: 22% (Hai mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

* Cơ chế hình thành thương tích:

- Vết thương trán -mi trên mắt trái khoảng, vỡ xương trán trái:

- Vết thương vùng cổ sau, vết thương vai trái, vết thương cánh tay trái

Do không có hình ảnh các vết thương, không khám được thương tích, nên không đủ căn cứ để xác định cơ chế hình thành thương tích AUDONG.

* Không cấp cứu kịp thời có nguy hiểm tính mạng không?

Theo Hồ sơ bệnh án ghi nhận, bệnh nhân T nhập viện Bệnh viện đa khoa tỉnh B lúc 00 giờ 05 phút ngày 20/11/2020 trong tình trạng như sau:

- Bệnh tỉnh, glasgow 15 điểm,

- Mạch 80 lần/phút, huyết áp 110/80mmHg, nhịp thở 20 lần/phút,

- Đồng tử phản xạ ánh sáng (+).

- Vết thương trán – mi trên mắt trái khoảng 10cm, vỡ xương trán trái, đã phẫu thuật tách bỏ phần sọ trán bể ra d # 2 x 4cm.

Vết thương vùng cổ sau khoảng 6cm, vai trái khoảng 6cm, cánh tay trái khoảng 2cm.

- CT scan sọ não: Không thấy tổn thương nhu mô não trên phim. Vỡ xương trán trái có mảnh rời, sưng nề mô mềm vùng trán trái.

Bệnh nhân mê nội khí quản, nằm ngửa nghiêng nhẹ đầu sang phải cắt bỏ chỉ từ vết thương cũ, hút máu tụ đen đặc, mép vết thương rỉ ít mù

Cắt lọc, tách bỏ phần sọ trán bể rời ra d # 2 x 4cm. Bơm rửa với nhiều oxy già, povidine, nước muối, cầm máu, đóng da 02 lớp".

Điều trị:

- Phẫu thuật làm sạch vết thương, gặm sọ lún.

- Khâu vết thương cổ sau, vết thương vai trái, vết thương cánh tay trái, vết thương trán trái.

Kháng sinh, giảm đau, chích ngừa SAT.

Như vậy theo ghi nhận của Bệnh viện, thương tích của bệnh nhân T là các vết thương da và phần mềm, tuy có vỡ xương trán nhưng không tổn thương nhu mô não, không có biểu hiện shock, không có chỉ định truyền máu, không có chỉ định phẫu thuật cấp cứu, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, sinh hiệu ổn.

Do đó, căn cứ trên hồ sơ cho phép nhận định: Trường hợp thương tích của bị hại Trần Đình T nếu không cấp cứu kịp thời khả năng cũng không nguy hiểm đến tính mạng.

Ngày 14/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã khởi tố vụ án hình sự, ngày 27/08/2025 đã khởi tố bị canđối với Nguyễn Văn H, về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại cáo trạng số 162/CT-VKS-KV16 ngày 06 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; 2024 và 2025, để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù.

- Xử lý vật chứng: Không (Do H đã vứt con dao vào thùng rác nhưng không nhớ vị trí nên không thu giữ được).

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình tố tụng bị hại Trần Đình T2 bồi thường của bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

- Đối với hành vi của Trần Đình T dùng dao đâm 01 cái vào vùng bụng của Nguyễn Văn H chỉ gây vết thương ngoài da, H không đi điều trị thương tích. Đồng thời, Nguyễn Văn H từ chối giám định tỷ lệ thương tích nên không xử lý.

- Đối với hành vi Trần Đình T dùng chân đạp vào người anh Nguyễn Văn H1 không gây thương tích gì anh H1 làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự, không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích nên không xử lý.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáokhông có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An(nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại và người làm chứng; Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/11/2020 tại địa chỉ số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng 01 con dao dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại chém vào vùng cổ sau, vai trái, cánh tay trái, trán trái của anh Trần Đình T gây thương tích là 22%.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng hung khí đâm gây thương tích cho bị hại tỉ lệ thương tích 22% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm”.

Do đó, Cáo trạng số: 162/CT-VKS-KV16 ngày 06 tháng 01 năm 2026của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện thuộc tội nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân củabị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọngnên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

Về xử lý vật chứng:Do Hưng đã vứt con dao vào thùng rác không nhớ vị trí không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Đình T3 nhận số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) và không yêu cầu gìthêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của Trần Đình T dùng dao đâm 01 cái vào vùng bụng của Nguyễn Văn H chỉ gây vết thương ngoài da, H không đi điều trị thương tích. Đồng thời, Nguyễn Văn H từ chối giám định tỷ lệ thương tích nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với hành vi Trần Đình T dùng chân đạp vào người anh Nguyễn Văn H1 không gây thương tích gì, anh H1 làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự, không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích, ngoài ra sự việc trên xảy ra trong nhà bà X và ông H1 không có dấu hiệu của T4 gây rối trật tự công cộng nên không có căn xem xét xử lýđối với các hành vi trên.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sátvề tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bịcáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H2 tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/8/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không có.

3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơthẩm.

4. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ