- Tranh chấp gì? án hình sự — "134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thế K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HS-ST Ngày: 17/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Hương
Ông Thượng Quang Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chiều - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/TLST-HS ngày 13/10/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 29/10/2025 đối với bị cáo:
Vũ Thế K1, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1983, tại Thành phố Hà Nội. Tên gọi khác: không. Hộ khẩu thường trú: Thôn 12, xã C3, huyện Cn, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn 12, xã E5, tỉnh Đắk Lắk); Nơi ở: 41/5 F, xã B, thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông Vũ Thành H8, sinh năm 1942 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị G4, sinh năm 1942. Vợ tên Trần Thị Mỹ P0, sinh năm 1987 (Đã ly hôn). Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không.
Ngày 24/10/2020, bị cáo đầu thú tại Công an phường Minh HJ. Đến ngày 02/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện C7 (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai) ra Quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ. Ngày 13/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam. Ngày 31/7/2025, Công an phường Tân Sơn Nhất, thành phố Hồ Chí Minh bắt bị can theo Quyết định truy nã số B590. Hiện nay, bị cáo K1 đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C7.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Nguyễn Đức TH, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 961, Lầu 4, Đ;, khu phố 8, phường C;, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu T’, sinh năm 1971 (Vắng mặt, có đơn).
Địa chỉ: 43/518 D’’, phường C’, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 10/2020, Vũ Thế K1 đến làm việc tại Đoàn hội chợ triển lãm của Công ty Mê Kông Expo tại ấp 9, xã Minh HJ, huyện C7, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố 9, phường Minh HJ, tỉnh Đồng Nai). K1 làm bộ phận sân khấu và người dẫn chương trình hội chợ. Khoảng 22 giờ ngày 23/10/2020, K1 tan ca làm việc nên K1 rủ ca sỹ đoàn hội chợ là anh Lê Huy Li, sinh năm 1987, nơi thường trú: Xã Canh Vĩnh, tỉnh Gia Lai và chị Nguyễn Thị Thanh M3, sinh năm 1987, nơi thường trú: xã Cây Trường, thành phố Hồ Chí Minh đến quán lẩu Dê “Minh HJ”, địa chỉ: Khu phố 12, phường Minh HJ, tỉnh Đồng Nai uống rượu thì anh Linh và chị Mai đồng ý. Khi đến quán lẩu Dê khoảng 20 phút, K1 gọi điện thoại rủ thêm anh Nguyễn Đức TH, sinh năm 1994, nơi thường trú: 961 Trần Hưng Đạo, phường Chợ Quán, thành phố Hồ Chí Minh làm cùng bộ phận sân khấu với K1 ra uống rượu thì anh Thành đồng ý. Khoảng 5 phút sau, anh Thành đến quán và ngồi uống rượu với K1, anh Linh và chị Mai. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, nhóm của K1 nghỉ nhậu. Khi ra về, K1 mua thêm thức ăn và rượu trắng tại quán lẩu và rủ anh Thành, anh Linh và chị Mai về sân khấu đoàn hội chợ tiếp tục uống rượu thì tất cả đồng ý. Khi về đến sân khấu lúc này khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày. K1 nói anh Thành “xuống phía dưới sân khẩu lấy bóng đèn điện đem lên để chiếu sáng ngồi uống rượu” thì anh Thành đi xuống lấy bóng đèn. Lúc này, bóng đèn đang sáng thì bị tắt. K1 nói anh Thành “bóng đèn đỏ bị hỏng rồi”. Anh Thành cãi với K1 “bóng đèn bị hỏng đường dây điện, không phải hỏng bóng đèn”. Bực tức anh Thành nên K1 chửi anh Thành “Đ.M mày ngu quá”. Chửi anh Thành rồi K1 bỏ đi ra ngoài. Bực tức K1, anh Thành xông đến dùng tay đánh nhiều cái vào mặt K1, K1 không đánh lại anh Thành mà nói với anh Nguyễn Hữu T’, sinh năm 1971, nơi thường trú: 43/518 D’’, phường C’, thành phố Hồ Chí Minh là trưởng đoàn hội chợ “anh Thanh ơi, thằng Thành đánh em”, sau đó K1 bỏ đi ra ngoài. Khoảng 10 phút, K1 thấy anh Thành điều khiển xe mô tô Drem (không rõ biển số xe) chạy đi kiếm K1 nhưng không thấy, nên anh Thành quay về lại sân khấu. Khi K1 đi bộ đến khu vực các thanh sắt (sắt dùng để lắp ráp các ô sạp của hội chợ) thì anh Thành điều khiển xe mô tô chạy đến chỗ K1 rồi dừng xe lại. Anh Thành vẫn ngồi trên xe, cách chỗ K1 đứng khoảng 2mét. Bực tức việc anh Thành đánh K1 tại khu vực sân khấu nên K1 nhặt thanh sắt tròn đường kính 0,4cm, dài 2,65mét đánh từ trên xuống trúng vào hông trái của Thành gây thương tích. Sau đó, K1 bỏ thanh sắt lại và đi ra khu vực đất trống cách vị trí đánh anh Thành khoảng 20 mét ngồi đó và sau đó bỏ về. Anh Thành thấy khó thở nên chạy xe ngược lại sân khấu nhờ anh Thanh đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện nhân dân 115 thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24/10/2020, Vũ Thế K1 đến Công an phường Minh HJ đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra Vũ Thế K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Kết luận giám định số 616/2024/KLGĐ – TTPY ngày 04/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương trên hồ sơ bệnh án đối với bị hại Nguyễn Đức TH kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức TH, qua giám định trên hồ sơ là 11% (Mười một phần trăm)
Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai truy tố Vũ Thế K1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội: Bị cáo gây thương tích cho bị hại, trong trạng thái tinh thần bị kích động không kìm chế được bản thân, do trước đó, bị hại đã có hành vi đánh vào mặt bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương, cần xử lý nghiêm theo quy định; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b, “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo có mẹ già yếu sinh năm 1942 phải chăm sóc, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú, nên đề nghị xem xét cho bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ các căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Vũ Thế K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
2. Căn cứ Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Thế K1 từ 06 (sáu) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Vật chứng thu giữ của vụ án: 01 (một) thanh sắt tròn đường kính 0,4cm, kích thướt dài 2,65m là hung khí Vũ Thế K1 dùng đánh anh Thành gây thương tích. Hung khí này do ông Nguyễn Hữu T’ giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 24/10/2020, K1 tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng là tiền hỗ trợ tiền xe đưa bị hại Thành đi cấp cứu tại bệnh viện 115 thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 09/11/2020, K1 tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng là tiền chi phí điều trị thương tích cho Nguyễn Đức TH. Ông Thanh nhận và đã giao lại cho cha ruột của bị hại.
Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đã truy tố và không có tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, thành tâm xin lỗi gia đình bị hại. Hoàn cảnh hiện nay của bị cáo rất khó khăn, nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về làm lại cuộc sống, thành người có ích.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 23/10/2020 tại khu phố 9, phường Minh HJ, tỉnh Đồng Nai, Vũ Thế K1 có hành vi sử dụng thanh sắt tròn đường kính 0,4cm, kích thướt dài 2,65m (là hung khí nguy hiểm) đánh từ trên xuống trúng vào hông trái của Thành gây thương tích cho Thành với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11% (Mười một phần trăm). Hành vi của Vũ Thế K1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai truy tố bị cáo Vũ Thế K1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được hành vi dùng ống kim loại tròn dài đường kính 0,4cm, kích thướt dài 2,65m (là hung khí nguy hiểm) đánh về phía bị hại hướng từ trên xuống trúng vào hông trái của bị hại, có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm về sức khỏe, tính mạng cho bị hại, nhưng vẫn thực hiện, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đồng thời, trước phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 23.000.000 (Hai mươi ba triệu) đồng là tiền hỗ trợ tiền xe đưa bị hại Thành đi cấp cứu tại bệnh viện 115 thành phố Hồ Chí Minh và tiền chi phí điều trị thương tích cho bị hại. Bị cáo đã đưa số tiền trên cho ông Nguyễn Hữu T’, ông Thanh xác nhận đã nhận và đã giao lại cho cha ruột của bị hại, hiện nay bị hại không có yêu cầu gì khác, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo có mẹ già yếu sinh năm 1942, sau khi thực hiện hành vi phạm tội vào năm 2020, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, trong giai đoạn được trả tự do (tháng 11/2020 đến khi bị bắt tạm giam ngày 31/7/2025) bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật, nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015, xử dưới mức khung hình phạt của Điều luật quy định đối với bị cáo Vũ Thế K1.
Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Đối với vật chứng của vụ án:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Đối với 01 (một) thanh sắt tròn đường kính 0,4cm, kích thướt dài 2,65m là hung khí Vũ Thế K1 dùng đánh anh Thành gây thương tích, ông Thanh (chủ đoàn hội chợ) tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, ông Thanh không có ý kiến gì về việc xử lý. Thanh sắt không còn giá trị sử dụng, là hung khí sử dụng để thực hiện tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy.
Về dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 23.000.000 (Hai mươi ba triệu) đồng là tiền hỗ trợ tiền xe đưa bị hại Thành đi cấp cứu tại bệnh viện 115 thành phố Hồ Chí Minh và tiền chi phí điều trị thương tích cho bị hại. Bị cáo đã đưa số tiền trên cho ông Nguyễn Hữu T’, ông Thanh xác nhận đã nhận và đã giao lại cho cha ruột của bị hại.
Theo biên bản xác minh ngày 30/10/2025, tại Công an phường Chợ Quán, Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định, Nguyễn Đức TH còn hộ khẩu tại khu phố 8, phường Chợ Quán, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng hiện đã bán nhà, đi khỏi địa phương, hiện không rõ nơi cư trú. Do đó, đối với việc bị hại có yêu cầu bồi thường gì thêm hay không, Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định, nên tách giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thế K1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Thế K1: 09 (chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 31/7/2025 (được trừ thời hạn tạm giữ từ 24/10/2020 đến 02/11/2020).
3. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh sắt tròn đường kính 0,4cm, kích thướt dài 2,65m.
(Biên bản giao nhận vật chứng số KV10/009 ngày 18/11/2025 giữa Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Đồng Nai và Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 10 – Đồng Nai).
4. Án phí:
Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được cấp tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 10 – Đồng Nai; - Phòng HSNV CA tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan cảnh sát điều tra CA tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HS, VT (11 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Trần Ngọc Mai Phương |