vanban.org

Bản án 77/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "77. Bản án Nguyễn Xuân T - Cướp giật tài sản 31.3.2025 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HS-ST
Ngày 31/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cường Dũng.

- Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Lê Thị Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2025/TLST-HS ngày 06/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-HS ngày 18/3/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân Th, sinh năm 1996. HKTT: Thôn C, xã T, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02. Vợ là Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1999 và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến ngày 16/01/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Chị Đào Thị Tr, sinh năm 1990 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999. Trú tại: Thôn C, xã T, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

2. Anh Hà Mạnh D, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn V, xã T, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du nhận được đơn trình báo của chị Đào Thị Tr về việc bị cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, bản 128GB. Ngày 26/11/2024, Nguyễn Xuân Th đến đầu thú về hành vi phạm tội và tự nguyên giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm sát (BKS): 99C1-328.95 và số tiền 2.000.000đ.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tiên Du đã làm rõ nội dung vụ việc như sau: Khoảng 9 giờ ngày 25/11/2024, Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm sát (BKS): 99C1-328.95 (xe có dán decal màu xanh - trắng) đi một mình từ nhà ở thôn C lên thành phố Bắc Ninh để giải quyết công việc cá nhân. Đến khoảng 9 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi trên đường QL38 mới, thuộc địa phận thôn T, xã T, hướng từ T đi thành phố Bắc Ninh, Th quan sát thấy chị Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vespa, màu trắng đi phía trước cùng chiều. Khi đi, chị Tr để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng ở túi bên trái của áo chống nắng đang mặc. Lúc này, Th nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó, Th điều khiển xe áp sát phía bên trái của chị Tr, dùng tay phải giật chiếc điện thoại ở trong túi rồi nhanh chóng tăng gas, phóng xe bỏ chạy theo hướng đi vòng xuyến QL38 đi về xã L. Khi đi đến thôn A, xã L, Th bỏ chiếc điện thoại vừa cướp giật ra để kiểm tra. Sau đó, Th đến một quán Internet ở phường H, thị xã T đăng nhập vào ứng dụng Facebook, liên hệ được với một người đàn ông lạ mặt, cả hai rủ nhau đến khu vực đầu cầu H, thuộc địa phận thôn N, xã H, huyện T để bán chiếc điện thoại với giá 2.000.000đ. Số tiền có được Th mang về nhà cất giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 127 ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, bộ nhớ trong 128GB, tài sản đã qua sử dụng, có giá trị còn lại là 10.000.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Th đề nghị trả cho chị Tr số tiền 2.000.000đ đã giao nộp trước đó đồng thời tác động đến gia đình khắc phục, bồi thường cho chị Tr số tiền 8.000.000đ. Sau khi nhận tiền, chị Tr không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho Th.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Nguyễn Xuân Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS-TD ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Th về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Chị là vợ của bị cáo Nguyễn Xuân Th. Sau khi sự việc xảy ra, anh Th đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại chị Đào Thị Tr, đối với số tiền này chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại chị Đào Thị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Mạnh D có đơn xin xử vắng mặt, đã nhận được tài sản, không có yêu cầu gì nên các ý kiến, lời khai của những người tham gia tố tụng trên có trong hồ sơ vụ án được Tòa án công bố theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh D trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Xuân Th 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận được tiền bồi thường và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận được tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Bị cáo Nguyễn Xuân Th nhận tội; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H1 không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Th chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên Công an huyện Tiên Du, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với không gian, thời gian phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, đơn trình báo và bản trình bày của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 25/11/2024, Nguyễn Xuân Th đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 99C1-328.95 áp sát xe mô tô do chị Đào Thị Tr điều khiển để nhanh chóng chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax của chị Tr, trị giá 10.000.000đ. Trong vụ án này, bị cáo Th đã dùng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 99C1-328.95 trong quá trình thực hiện hành vi Cướp giật tài sản, đây là tình tiết định khung tăng nặng dùng “thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh trật tự và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ; đồng thời hành vi điều khiển xe cướp giật tài sản còn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại cũng như người đi đường khác; gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân, vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tự nguyện giao nộp số tiền có được do phạm tội mà có và tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, đầu thú đồng thời người bị hại cũng có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là Nguyễn Xuân H được tặng thưởng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, Huân chương kháng chiến, chiến công hạng nhất, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Qua xem xét tính chất, mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận được bồi thường và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận được tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 99C1-328.95 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên là của anh Hà Mạnh D, sinh năm 1991, HKTT tại thôn V, xã T. Th mượn xe của anh D để cách đó mấy ngày để làm phương tiện đi lại. Ngày 05/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh D là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du thông báo truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được. Khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau là phù hợp.

. Các vấn đề khác: Đối với anh Hà Mạnh D là người cho Th mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi lại, anh D không biết việc Th sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với nam thanh niên mua điện thoại của Th: Th liên hệ với nam thanh niên thông qua mạng xã hội Facebook, Th không nhớ tài khoản và mật khẩu đăng nhập, không biết tên, tuổi địa chỉ của nam thanh niên nên không xác định được con người cụ thể. Do vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Th 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Xuân Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ