vanban.org

Bản án 77/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016 cho chị Đ nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Nguyễn Thị Đẹp và Nguyễn Hữu Đức"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2025
V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Chi

2. Ông Huỳnh Hoàng Nam

* Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5

- An Giang.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 266/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990.

HKTT: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh K.

Chỗ ở hiện nay: ấp T1, xã T2, huyện G, tỉnh K.

Nay là: ấp T, xã T, tỉnh A.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh K.

Nay là: ấp P, xã T, tỉnh A.

(Chị Đ có đơn xin vắng mặt; anh Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Do mai mối có tìm hiểu vài tháng chị và anh Đ tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh K. Sau khi cưới chung sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân anh Đ chơi cờ bạc, không chăm lo vợ con, nói thì anh sửa rồi lại như cũ. Mặc dù đã cho nhau cơ hội nhưng vẫn không thể hàn gắn. Chị và anh Đ đã ly thân từ tháng 01 năm 2025 đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục duy trì được nữa, yêu cầu cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ

+ Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu Th, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ, mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị Đ: Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Anh Đ: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đ được ly hôn với anh Đ; về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016, hiện đang ở với chị Đ. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu Th, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi chị Đ và anh Đ ly thân cho đến nay thì cháu Th sống với chị Đ; đồng thời theo nguyện vọng của cháu Th có nguyện vọng được sống với chị Đ. Phía anh Đ không có ý kiến gì về việc chị Đ yêu cầu nuôi dưỡng con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung là Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016 cho chị Đ nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do chị Đ không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Đ xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết, phía anh Đ không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ có hộ khẩu thường trú ở ấp P, xã T, huyện G, tỉnh K (nay là ấp P, xã T, tỉnh A). Vì vậy tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hữu Đ vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Đ và anh Đ trong vụ án này.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Đ và anh Đ là hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 120/2012 ngày 27 tháng 11 năm 2012.

Theo chị Đ nguyên nhân là do anh Đ chơi cờ bạc, không chăm lo vợ con, nói thì anh sửa rồi lại như cũ. Mặc dù đã cho nhau cơ hội nhưng vẫn không thể hàn gắn. Chị và anh Đ đã ly thân từ tháng 01 năm 2025 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục duy trì được nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Anh Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị Đ đưa ra. Mặc dù, lời trình bày của chị Đ là đơn phương nhưng anh Đ không có ý kiến phản bác đối với lời trình bày này. Hơn nữa, anh Đ không tham dự các phiên hòa giải của Tòa án để thể hiện ý kiến của mình là muốn đoàn tụ, hàn gắn mâu thuẫn hôn nhân chứng tỏ anh Đ không mong muốn tiếp tục duy trì hôn nhân với chị Đ. Đồng thời anh, chị đã có thời gian ly thân khá lâu vẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị Đ và anh Đ không thể tiếp tục kéo dài, tình trạng hôn nhân của anh, chị đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Đ xác định giữa chị và anh Đ có 01 con chung tên Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016, hiện đang ở với chị Đ. Khi ly hôn chị Đ yêu cầu nuôi dưỡng cháu Th, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị Đ và anh Đ ly thân cho đến nay thì cháu Th sống với chị Đ; đồng thời theo nguyện vọng của cháu Th có nguyện vọng được sống với chị Đ. Phía anh Đ không có ý kiến gì về việc chị Đ yêu cầu nuôi dưỡng con chung. Do đó để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung nên cần tiếp tục giao con chung là Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016 cho chị Đ nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đ không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ không có ý kiến tài sản chung cũng như nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[7] Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Đ.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Nguyễn Đức Th, sinh ngày 04/10/2016 cho chị Đ nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

- Tiền cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013137 ngày 10/4/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5). Xem như chị Đ đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Nguyễn Thị Đ, Anh Nguyễn Hữu Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ