vanban.org

Bản án 77/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn Đ.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Trần Gia H1, sinh ngày 16/9/2013 (nam). Ông Trần Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hằng - Trần Văn Đảm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST
Ngày 21-8-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Diện

Ông Nguyễn Văn Sol

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 297/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Thôn Th, xã V, tỉnh Quảng Trị.

Chỗ ở hiện nay: Số 86/1D đường Trần Bình Trọng, Phường C, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 6 năm 2025 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Được sự thống nhất của hai gia đình nên tôi và ông Trần Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Ba (nay là Hải Bình), H1ện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị vào năm 2013. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến tháng 9 năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, ông Đ không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con, thường hay đi nhậu với bạn bè rồi vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau nên dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng và hiện ông Đ đang sống chung với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn sống chung từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân không đạt được hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng nên tôi yêu cầu được ly hôn với chồng tôi là ông Trần Văn Đ.

- Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 01 người con tên Trần Gia H1, sinh ngày 16/9/2013 (nam), hiện con đang sống chung với tôi. Khi ly hôn tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ thu và nợ trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Trần Văn Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà ông Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà H. Đồng thời, Tòa án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần nhưng ông Đ vẫn không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Bị đơn ông Trần Văn Đ Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử hợp lệ lần 2 đối với ông Đ, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Trần Văn Đ.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Ba, H1ện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị vào năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 25 tháng 7 năm 2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn Đ được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét thấy, bà Nguyễn Thị H xin ly hôn với ông Trần Văn Đ là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, ông Đ không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con, thường hay đi nhậu với bạn bè rồi vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau nên dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng và hiện ông Đ đang sống chung với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn sống chung từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Về phía ông Đ đã được Tòa án thông báo hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt và cũng không có trình bày ý kiến gì của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà H, từ đó cho thấy ông Đ cũng không có thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông Đ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H với ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định có 01 người con tên Trần Gia H1, sinh ngày 16/9/2013 (nam) hiện con đang sống chung với bà H. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con. Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con, Tòa án đã làm việc trực tiếp với cháu Trần Gia H1 thì cháu H1 có nguyện vọng sống chung với mẹ H nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu H1. Do đó, giao 01 người con tên Trần Gia H1, sinh ngày 16/9/2013 (nam) cho bà Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Ông Trần Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên bà Nguyễn Thị H phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Trần Gia H1, sinh ngày 16/9/2013 (nam).

Ông Trần Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị H phải chịu nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị H có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019582 ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự H1ện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau) được cH1ển thu, không phải nộp tiếp.

“Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ