vanban.org

Bản án 77/2025/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Kim C, có đại diện theo ủy quyền là anh Võ Trọng P.

Buộc anh Đoàn Võ Trí T phải bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Kim C số tiền thiệt hại 03 cây kim quýt là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Thực hiện việc bồi thường ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày ông Phạm Kim C có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Đoàn Võ Trí T chậm thi hành đối với phần tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Phạm Kim C tranh chấp Đoàn Võ Trí T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Kim C, có đại diện theo ủy quyền là anh Võ Trọng P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:77/2025/DS-ST
Ngày: 14/5/2025
V/v tranh chấp “Yêu cầu bồi thường thiệt hại
do tài sản bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Lĩnh;

2. Bà Lê Thị Vân.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Chí Đạt – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trinh – kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 483/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2025/QĐST-DS, ngày 10/4/2025; Thông báo dời phiên tòa số:06/TB-TA, ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Kim C, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Võ Trọng P, sinh năm 2000 – Theo văn bản ủy quyền ngày 09/10/2024. (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Anh Đoàn Võ Trí T, sinh năm 1994. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Võ Trọng P trình bày:

Trước đây ông Kim C có trồng 1 số cây kiểng và cây ăn trái gồm mít, nguyệt quế, mai, kim quýt trên phần đất của gia đình và giáp ranh với đất của anh Đoàn Võ Trí T, trong đó có 04 cây kim quýt 25 năm tuổi, khi công trình làm đường giao thông cắt ngang qua đất của gia đình còn lại 1 số cây nêu trên nằm trên đất của ông C giáp với đất anh T. Ngày 26/6/2024 anh T cố tình chặt phá 04 cây kim quýt của ông C mà không có lý do, khi xảy ra vụ việc ông C có trình báo chính quyền địa phương, Công an xã có lập biên bản và yêu cầu ông Thông dừng việc chặt cây. Nay ông Phạm Kim C yêu cầu anh Đoàn Võ Trí T chấm dứt hành vi cố tình phá hoại tài sản và bồi thường thiệt hại 04 cây kiểng kim quýt cho anh C số tiền 20.000.000đ.

* Tại bản tự khai bị đơn anh Đoàn Võ Trí T trình bày:

Gia đình tôi có thửa đất 122, tờ bản đồ 27, diện tích 3985m2 tọa lạc Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ông C có thửa đất số 70 đối diện thửa 122 của gia đình tôi. Trước đây ông C qua thửa đất của gia đình tôi trồng cây lấn chiếm đất của gia đình tôi. Năm 2020 gia đình tôi đã khởi kiện yêu cầu ông C trả lại phần đất lấn chiếm và chấm dứt hành vi cản trở gia đình tôi sử dụng đất, vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy giải quyết bằng bản án, tuy nhiên phần cây trồng trên đất thì để 02 bên tự giải quyết. Sau đó gia đình tôi có yêu cầu ông C di dời 04 cây trồng chắn lối đi của gia đình nhưng ông C không thực hiện. Do xe vận chuyển vật liệu xây dựng làm gãy 01 cây, tôi có chặt 01 cây kim quýt của ông C do tán cây này ngã qua phần đất của gia đình gây cản trở lối đi của gia đình. Tôi có yêu cầu ông C di dời 02 cây còn lại thì ông C không thực hiện nên tôi có đào và bó gốc 02 cây này trả qua nhà ông C, do ông C không trồng lại nơi khác nên dẫn đến việc 02 cây này chết không phải do lỗi của tôi. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông C yêu cầu bồi thường thiệt hại 04 cây kim quýt là 20.000.000đ tôi không đồng ý, tôi chỉ làm chặt 01 cây, theo gợi ý của Công an xã N giá trị khoảng 500.000đ, tôi đồng ý bồi thường số tiền 500.000đ này cho ông C, không đồng ý bồi thường số tiền 20.000.000đ theo yêu cầu của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh T thống nhất giá trị 01 cây kim quýt khoảng 1.000.000đ, nhưng chỉ đồng ý bồi thường cho ông C 1.000.000đ. Phía đại diện ủy quyền của ông C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bồi thường giá trị 04 cây kim quýt 20.000.000đ.

* Đại diện ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý theo yêu cầu của bị đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Ông Phạm Kim C khởi kiện yêu cầu anh Đoàn Võ Trí T bồi thường thiệt hại 04 cây kim quýt 20.000.000đ là chỉ có căn cứ một phần. Bởi, căn cứ biên bản định giá ngày 12/02/2025 của Hội đồng định giá không xác định được giá trị 04 cây kim quýt là 20.000.000đ. Tại phiên tòa cả hai bên đương sự đều thừa nhận 1 cây kim quýt do xe chở vật liệu va quẹt bị gãy, còn 03 cây còn lại bị thiệt hại lỗi 01 phần do anh T gây ra và anh T cũng đồng ý giá trị 01 cây kim quýt là 1.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc anh T bồi thường số tiền 3.000.000đ/03 cây kim quýt cho ông C, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn bồi thường số tiền 17.000.000đ và bồi thường giá trị 01 cây kim quýt bị gãy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên tranh chấp “Yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản” theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự; Bị đơn có nơi cư trú tại Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại 04 cây kim quýt với giá trị 20.000.000đ; Phía bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định 01 cây kim quýt chỉ có giá trị khoảng 1.000.000đ và chỉ bồi thường số tiền 1.000.000đ cho nguyên đơn.

Xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn có phần đất liền kề trước đây hai bên có phát sinh tranh chấp, vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giải quyết bằng bản án số: 241/2023/DS-ST, ngày 28/9/2023, tuy nhiên đối với phần cây trồng trên đất thì chưa được giải quyết. Tại phiên tòa hai bên đương sự thống nhất thừa nhận 04 cây kim quýt ông C trồng trên phần đất thuộc lề lộ và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có 03 cây do bị chết thuộc một phần lỗi của anh T, còn 01 cây bị gãy do xe chở vật liệu xây dựng va quẹt, không phải do lỗi trực tiếp từ anh T. Phía ông C cho rằng lỗi trực tiếp của anh T làm 04 cây kim quýt bị chết, gãy làm thiệt hại tài sản nên ông C yêu cầu anh T phải bồi thường thiệt hại mỗi cây kim quýt là 5.000.000đ. Thấy rằng yêu cầu khởi kiện của ông C chỉ có căn cứ một phần, bởi tại phiên tòa anh T thừa nhận bản thân anh do quá bức xúc trong quá trình tranh chấp nên có tự ý chặt bỏ 01 cây, còn 02 cây anh T thuê người bứng lên mang qua nhà của ông C để ông C trồng nơi khác, do ông C không mang đi trồng dẫn đến cây bị chết, 01 cây còn lại do xe chở vật liệu xây dựng va quẹt dẫn đến cây bị gãy. Như vậy, anh T có 01 phần lỗi nên phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông C giá trị cây kim quýt theo quy định.

Căn cứ biên bản định giá ngày 12/02/2025 Hội đồng định giá không tiến hành định giá được giá trị của 04 cây kim quýt có giá 20.000.000đ như yêu cầu của ông C, nên chưa có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét để buộc anh T phải bồi thường cho ông C số tiền 15.000.000đ như yêu cầu. Tại phiên tòa anh T thống nhất giá trị mỗi cây kim quýt khoảng 1.000.000đ, tuy nhiên chỉ đồng ý bồi thường cho ông C giá trị 01 cây bị chặt là 1.000.000đ, không đồng ý bồi thường giá trị 03 cây còn lại. Như nhận định ở trên, lỗi một phần do anh T làm thiệt hại 03 cây kim quýt nên cần buộc anh T có nghĩa vụ bồi thường cho ông C số tiền 3.000.000đ (giá trị 03 cây kim quýt). Đối với 01 cây kim quýt còn lại cả hai bên đương sự đều thừa nhận không phải lỗi trực tiếp từ anh T mà do xe chở vật liệu xây dựng quá trình di chuyển va quẹt làm gãy cây, nên việc ông C yêu cầu anh T bồi thường giá trị 01 cây kim quýt này là không có căn cứ nên không được xem xét chấp nhận. Nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của ông C buộc anh T bồi thường thiệt hại cho ông C giá trị 03 cây kim quýt là 3.000.000đ, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C đòi anh T bồi thường số tiền 17.000.000đ).

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá là 3.000.000đ. Do yêu cầu của ông C chỉ được Tòa án chấp nhận một phần, nên chi phí tố tụng sẽ được chia đôi theo quy định tại Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, ông C và anh T mỗi người phải chịu 1.500.000đ. Ông C đã tạm ứng chi phí định giá, thẩm định 3.000.000đ, nên anh T phải có nghĩa vụ hoàn lại ông C số tiền 1.500.000đ.

Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, 95, 147, 165, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Kim C, có đại diện theo ủy quyền là anh Võ Trọng P.

Buộc anh Đoàn Võ Trí T phải bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Kim C số tiền thiệt hại 03 cây kim quýt là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Thực hiện việc bồi thường ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông Phạm Kim C có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Đoàn Võ Trí T chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Kim C yêu cầu anh Đoàn Võ Trí T phải bồi thường thiệt hại số tiền 17.000.000đ đối với 04 cây kim quýt.

3/ Về chi phí tố tụng: Anh Đoàn Võ Trí T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Phạm Kim C số tiền 1.500.000đ.

4/ Về án phí:

- Anh Đoàn Võ Trí T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ.

- Ông Phạm Kim C phải chịu 850.000đ đối với số tiền bồi thường thiệt hại không được Tòa án chấp nhận. Ông C đã nộp 500.000đ theo biên lai thu số 0002611, ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, cấn trừ nên còn phải nộp tiếp 350.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

5/ Nguyên đơn, bị đơn trong vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ