vanban.org

Bản án 77/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 02 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/7/2024. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn N - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 77/2024/HS-ST
Ngày 25 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết

Ông Phạm Tuấn Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Quyết Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Lương Xuân Định - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Văn N (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 15/9/1994 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi tạm trú và nơi ở: Tổ E thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn M và bà Hù Thị L. Vợ con chưa có. Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án.

Bản án số 03/2015/HSST ngày 27/01/2015 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo Hồ Văn N 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Bản án số 23/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt bị cáo Hồ Văn N 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bản án số 58/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo Hồ Văn N 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/12/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định số 16/QĐ-XPHC ngày 04/7/2011 của Công an huyện B, tỉnh Lào Cai xử phạt hành chính đối với Hồ Văn N về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức cảnh cáo. 1

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, tạm giam từ ngày 21/7/2024 theo Lệnh, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L. Hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Xuân T và chị Lý Thị Hương T1

Địa chỉ: TDP P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người làm chứng: Bùi Thị T2. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 07/7/2024, Hồ Văn N đi xe khách từ thành phố L, tỉnh Lào Cai đến thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi bị cáo mang theo 01 vam chữ “T” kích thước 17,5cm x 11,5cm, phần tay cầm bọc cao su màu vàng và có 02 đầu mài dẹt. Khoảng 01 giờ ngày 08/7/2024, bị cáo đi bộ đến khu vực tổ dân phố P, thị trấn P thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 24B1-756.02 đang dựng trước sân cửa nhà anh Nguyễn Xuân T và chị Lý Thị Hương T1. Quan sát xung quanh không có ai nên bị cáo đi đến gần chiếc xe, sử dụng vam chữ “T” để phá khoá xe. Bị cáo cắm vam vào ổ khoá điện vặn 02 lần theo chiều kim đồng hồ thì mở được khoá xe. Sau đó bị cáo dắt xe mô tô đến khu vực ngã ba thị trấn P đi B, ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe ra B, theo đường quốc lộ G lên thành phố L. Khi đi đến khu vực đường N thuộc phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, bi cáo nhìn thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha mới hơn xe vừa trộm cắp được. Bị cáo dựng xe mô tô biển kiểm soát 24B1-756.02 ở ven đường và trộm cắp chiếc xe mô tô mới vừa phát hiện, điều khiển xe đi về phòng trọ ở tổ E thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Ngày 09/7/2024 có bà Bùi Thị T2 phát hiện thấy chiếc xe 24B1-756.02 không có ai đến nhận nên đã báo cơ quan công an. Ngày 12/7/2024, Hồ Văn N bị Công an thành phố L bắt giữ về hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra bị cáo đã tự giác khai nhận về hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B1-756.02 tại huyện B.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 24B1-756.02 có giá trị là 9.500.000đ. Cáo trạng số 62/CT-VKSBT ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố Hồ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hồ Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không đề nghị gì. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 2 nưm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. T3 án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hồ Văn N khai nhận khoảng 01 giờ ngày 08/7/2024 bị cáo đã trộm cắp 01 mô tô biển kiểm soát 24B1-756.02 của anh Nguyễn Xuân T chị Lý Thị Hương T1 tại tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Trị giá chiếc xe theo định giá là 9.500.000đ. Tại thời điểm phạm tội bản thân bị cáo có 03 tiền án chưa được xoá án tích, trong đó bản án số 58/2019/HSST ngày 28/1/2019 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu đã áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo. Như vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

. Bị Hồ Văn N là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, vì muốn có tiền tiêu xài nên đã trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và hiện vẫn còn 03 tiền án chưa được xoá án tích. Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7/2024 bị cáo còn thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố L và huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại bản án số 71/2024/HSST ngày 05/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Bát Xát đã xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 167/2024/HSST ngày 13/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai đã xử phạt bị cáo 04 năm về tội Trộm cắp tài sản. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, khi bị công an thành phố L bắt giữ bị cáo đã tự khai báo về hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 24B1-756.02 tại địa bàn huyện B, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. 3

. Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì nên không cần thiết phải phạt bổ sung bị cáo.

. Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại anh Nguyễn Xuân T chị Lý Thị Hương T1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu xám đen bạc biển kiểm soát 24B1-756.02 và đăng ký xe mang tên Lý Thị Hương T1. Quá trình giải quyết đã trả lại xe và đăng ký xe cho anh T chị T1 là đúng quy định. Ngoài ra đối với công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội là chiếc vam kim loại hình chữ T, hiện cơ quan công an thành phố Lào Cai thu giữ để xử lý trong vụ án khác, vì vậy Hội đồng xét xử không xử lý trong vụ án này.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo: Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù là quá nghiêm khắc chưa phù hợp. Bởi lẽ bên cạnh việc xem xét tới nhân thân, tính chất mức độ hành vi của bị cáo cũng cần cân nhắc tới các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo một mức án phù hợp. Trong vụ án này bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn và đã tự thú về hành vi của mình. Tại phiên toà bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 02 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hồ Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi 4 hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ