- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Phan Thị Thu Hòa và Đỗ Tấn Trung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thu Hòa ly hôn với anh Đỗ Tấn Trung
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/3/2024 “V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Xuân Dũng
2. Bà Trương Thị Hiệp
- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Đình Dân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 389 /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu Hòa, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi ĐKTT: Khu vực Tân Hòa, phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Nơi ở hiện nay: Ấp Phước Đức B, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Anh Đỗ Tấn Trung, sinh năm 1975 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực Tân Hòa, phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06/01/2024 và các văn bản tố tụng khác, nguyên đơn Chị Phan Thị Thu Hòa trình bày: Chị và anh Đỗ Tấn Trung tổ chức cưới hỏi vào đầu năm 2004, trước khi cưới anh chị có thời gian tìm hiểu khoảng vài tháng, cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân, có giấy đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hoà (nay là phường Nhơn Hòa) cấp vào ngày 05 tháng 4 năm 2004. Sau khi cưới, anh chị xây nhà ở riêng. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Trung ham mê số đề, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, gây ra nợ nần. Ngoài ra anh còn không chung thủy với vợ, chị chỉ biết khi có người phụ nữ đến nhà tìm anh và chị đọc được nội dung tin nhắn trong máy điện thoại của anh. Mỗi lần vợ chồng kình cãi là anh Trung bỏ nhà đi, sau đó anh cũng tự quay về nhà nhưng chỉ sống thời gian ngắn. Phần vì các con và gia đình cha mẹ hai bên cũng động viên, hòa giải nên chị bỏ qua những cái sai của anh, chị cũng muốn hàn gắn cùng nuôi dạy con nhưng song anh vẫn tính nào tật nấy, anh vẫn ham chơi gây nợ nần nhiều. Từ tháng 02/2019 cho đến nay chị và anh Trung không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị xác định hiện không còn tình cảm với anh Trung nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đỗ Tấn Trung.
Về con chung: Chị và anh Đỗ Tấn Trung có 02 người con chung tên Đỗ Phan Thanh Bình, sinh ngày 11/6/2007 và Đỗ Phan Thanh Phát, sinh ngày 21/9/2011. Hiện các con đang ở với chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 người con, không yêu cầu anh Trung cấp dưỡng nuôi con. Chị làm nghề mua bán hàng, thu nhập bình quân 8.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu giải quyết.
Theo biên bản ghi lời khai ngày 31/01/2024 và các văn bản tố tụng khác bị đơn anh Đỗ Tấn Trung trình bày: Anh và chị Phan Thị Thu Hoà có thời gian tìm hiểu khoảng hơn một năm. Anh và chị tự nguyện kết hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hoà (nay là phường Nhơn Hòa). Sau khi kết hôn, anh chị sống ở khu vực Tân Hòa, phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Cuộc sống hôn nhân của anh chị thời gian đầu hạnh phúc. Đến khoảng năm 2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh làm ăn thất bại, kinh tế ngày càng khó khăn, vợ chồng thường xuyên kình cãi. Anh không còn chung sống với chị Hòa từ đầu năm 2023 cho đến nay. Hiện anh xác định vẫn còn tình cảm với chị Hoà nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Hòa có 02 người con chung, tên Đỗ Phan Thanh Bình sinh ngày, 11/6/2007 và người con tên Đỗ Phan Thanh Phát, sinh ngày 21/9/2011. Hiện các con đang ở với vợ tại tỉnh Tây Ninh. Ly hôn, anh yêu cầu được nuôi 02 người con chung, không yêu cầu chị Hoà cấp dưỡng nuôi con. Anh làm nghề lái xe.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
2
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.
-Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thu Hòa ly hôn với anh Đỗ Tấn Trung.
Về con chung: Giao 02 người con chung tên Đỗ Phan Thanh Bình, sinh ngày 11/6/2007 và Đỗ Phan Thanh Phát, sinh ngày 21/9/2011 cho chị Hòa tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn cho đến khi các con thành niên. Chị Hòa không yêu cầu cấp dưỡng nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hòa và anh Trung không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Phan Thị Thu Hòa chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Phan Thị Thu Hòa và anh Đỗ Tấn Trung đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Hòa và anh Trung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thu Hòa và anh Đỗ Tấn Trung tự nguyện đi đến hôn nhân, được Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hòa (nay là phường Nhơn Hòa) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, giữa anh chị lại phát sinh mâu thuẫn và hiện không còn sống chung với nhau một thời gian dài, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Hòa xác định không còn tình cảm với chồng, anh Trung xác định vẫn còn tình cảm với chị Hòa nên anh không đồng ý ly hôn. Anh nhận trực tiếp thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh không muốn đến Tòa gặp chị Hòa, thể hiện anh không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trước đây, gia đình hai bên cũng có hòa giải nhưng anh chị không quaylại chung sống với nhau, suốt thời gian qua anh cũng không có biện pháp nào để cải thiện tình cảm, anh chị tiếp tục duy trì tình trạng hôn nhân như hiện nay thì cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Qua phân tích trên thể hiện vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Hoà, cho chị Phan Thị Thu Hòa ly hôn với anh Đỗ Tấn Trung.
3
Về nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: Vợ chồng có 02 người con chung là tên Đỗ Phan Thanh Bình, sinh ngày 11/6/2007 và Đỗ Phan Thanh Phát, sinh ngày 21/9/2011, trong quá trình giải quyết vụ án cả anh Trung và chị Hòa đều có yêu cầu nuôi con chung, Tòa án thấy rằng: lâu nay các cháu đang ở với chị Hòa việc ăn học đã quen trường lớp, hiện mọi sinh hoạt hàng ngày của các cháu cần sự chăm sóc của người mẹ, về thu nhập của chị Hòa cũng bảo đảm cho việc nuôi dưỡng các con và nguyện vọng của các con đều muốn ở với mẹ. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung của chị Hòa là có căn cứ chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu của anh Trung.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tòa giải thích về quyền lợi của con nhưng chị Hòa vẫn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị Hòa mua bán, thu nhập bình quân 8.000.000 đồng/tháng đủ chi phí nuôi con, nên Tòa không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Chị Hòa và anh Trung không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chị Phan Thị Thu Hòa phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thu Hòa ly hôn với anh Đỗ Tấn Trung
2. Về trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn: Giao 02 người con chung tên Đỗ Phan Thanh Bình sinh ngày, 11/6/2007 và người con tên Đỗ Phan Thanh Phát, sinh ngày 21/9/2011 cho chị Phan Thị Thu Hòa tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn cho đến khi các con thành
4
niên hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì chị Hòa không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi có con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc về mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung và nợ: Chị Hoà và anh Trung không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Phan Thị Thu Hòa phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005250 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, chị Phan Thị Thu Hòa và anh Đỗ Tấn Trung vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định - VKSND TX. An Nhơn - Chi cục THA TX. An Nhơn - UBND phường Nhơn Hoà - Các đương sự - Lưu hồ sơ - Lưu án văn 5 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hồ Xuân Dũng – Trương Thị Hiệp 6 7 | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kiều Oanh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kiều Oanh |