vanban.org

Bản án 77/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/02/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị H ly hôn anh Nguyễn Huy K.

Về nuôi con chung: Giao hai con chung Nguyễn Khánh T, sinh ngày 05/03/2008 và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/02/2013 cho anh Nguyễn Huy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị H ly hôn anh Nguyễn Huy K.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-02-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành

Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2024/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H; sinh năm 1982. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Địa chỉ hiện nay: BLK 315 Clementi Ave 4#11 - 149 S. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy K; sinh năm 1980. Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (có chứng thực của Đại sứ quán nước C tại nước Cộng hòa Singapore) nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

Chị H và anh Nguyễn Huy K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 02 tháng 01 năm 2003; sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên những năm gần đây bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do lối sống không còn phù hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung và đã không sống chung với nhau nhiều năm nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn xin được ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 13/04/2003; Nguyễn Khánh T, sinh ngày 05/03/2008; Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/02/2013. Chị Đặng Thị H đề nghị giao hai con chung là Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V cho anh Nguyễn Huy K nuôi dưỡng. Đối với Nguyễn Thị Khánh L trên 18 tuổi, đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Chị H sẽ cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V mỗi tháng là 5.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Đặng Thị H hiện đang cư trú và làm việc tại Singapore, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn nên đã ủy quyền cho ông Bùi Minh A, sinh năm 2000, trú tại xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thay chị H nộp hồ sơ, tài liệu, tạm ứng án phí, nhận các văn bản của Tòa án. Chị Đặng Thị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt chị Đặng Thị H.

Ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Huy K:

Về hôn nhân: Về điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn anh K đồng ý như ý kiến của chị H; hiện nay do tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu xin ly hôn, anh K đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 13/04/2003; Nguyễn Khánh T, sinh ngày 05/03/2008; Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/02/2013. Anh K đồng ý nuôi hai con chung là Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V. Đối với Nguyễn Thị Khánh L trên 18 tuổi, đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Anh K đồng ý chị H cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V mỗi tháng là 5.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Huy K có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: chị Đặng Thị H hiện đang cư trú tại C Singapore; trước khi xuất cảnh, chị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Vụ án Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục hòa giải: căn cứ vào khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì chị H và anh K không yêu cầu hòa giải. Chị H và anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Huy K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn; sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau; hiện nay chị Đăng Thị H1 ở C Singapore, anh Nguyễn Huy K ở Việt Nam tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Huy K là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Huy K có 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 13/04/2003, Nguyễn Khánh T, sinh ngày 05/03/2008, Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/02/2013. Đối với Nguyễn Thị Khánh L đã trưởng thành đủ 18 tuổi, chị H, anh K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị H và anh K đồng ý giao hai con chung Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chị H sẽ cấp dưỡng nuôi hai con chung một tháng 5.000.000 đồng, anh K đồng ý. Vì vậy, giao hai con chung Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V cho anh Nguyễn Huy K trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung một tháng 5.000.000 đồng kể từ tháng 3/2024 cho đến khi hai con chung Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Huy K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị H ly hôn anh Nguyễn Huy K.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung Nguyễn Khánh T, sinh ngày 05/03/2008 và Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/02/2013 cho anh Nguyễn Huy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Khánh T, sinh ngày 05/03/2008, Nguyễn Khánh V, sinh ngày 18/02/2013 một tháng 5.000.000 đồng kể từ tháng 3 năm 2024 cho đến khi hai con chung Nguyễn Khánh T và Nguyễn Khánh V đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh K không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 8 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001443 ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Đặng Thị H còn phải nộp tiếp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Huy K vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ; chị Đặng Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ