vanban.org

Bản án 77/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Bích H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q tự nguyện thuận tình ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012 cho ông Trần Văn Q nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 là muốn được sống chung với cha. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Bích H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÀNG LONG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-12-2024
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Trung Thống.

Bà Lê Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thúy Lam – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 530/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Bích H, sinh năm: 1989 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm: 1988 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Con chung của bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q là cháu Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10-6-2024 và bản tự khai ngày 03-12-2024, nguyên đơn bà Lưu Thị Bích H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn Q đi đến hôn nhân do tự quen biết nhau, được cha mẹ hai bên chấp nhận, làm lễ cưới vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 29-6-2012. Không có nữ trang cưới. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường hay cự cải, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên đã sống ly thân nhau từ đó đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên nay bà khởi kiện xin được ly hôn với ông Trần Văn Q.

Về con chung: Bà và ông Trần Văn Q chỉ có 01 con chung là Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012. Thời gian bà và ông Q sống ly thân đến nay thì cháu H1 sống chung với ông Q. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung cho ông Q nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà xác định ngoài những giấy tờ đã nộp kèm theo đơn khởi kiện, thì bà không nộp thêm chứng cứ gì để Tòa án xem xét. Bà cũng không thuộc diện gia đình chính sách nào.

Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt cùng ngày 06-12-2024, bị đơn ông Trần Văn Q trình bày:

Ông xác định đi đến hôn nhân với bà Lưu Thị Bích H là tự nguyện quen biết nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 29-6-2012. Không có nữ trang cưới. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 10 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường hay cự cải, nên đã sống ly thân nhau mà không hàn gắn lại được. Nay về hôn nhân, ông đồng ý ly hôn với bà H. Con chung là Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012 ông đồng ý nuôi dưỡng, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả: Ông thống nhất xác định không có, nên không yêu cầu gì. Ông thống nhất với các chứng cứ bà H đã nộp kèm theo đơn khởi kiện mà Tòa án đã công khai cho ông được biết. Riêng ông không yêu cầu gì, nên không cung cấp chứng cứ gì để Tòa án xem xét.

Tại đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt ngày 06-12-2024, cháu Trần Gia H1 trình bày: Cha mẹ cháu là Trần Văn Q và Lưu Thị Bích H. Hiện nay cháu đang sống chung với cha. Khi cha mẹ ly hôn, thì nguyện vọng của cháu là muốn được tiếp tục sống chung với cha.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Lưu Thị Bích H, ông Trần Văn Q và con chung cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Vị đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 54, 55, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Bích H: Công nhận bà H với ông Trần Văn Q tự nguyện thuận tình ly hôn; Về con chung: Giao cháu Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012 cho ông Q tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung; Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà H, ông Q chưa yêu cầu giải quyết, nên không xem xét; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông Q cùng xác định không có, nên không xem xét. Ngoài ra, V đề nghị các đương sự có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lưu Thị Bích H là nguyên đơn và ông Trần Văn Q là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án nhân dân huyện Càng Long triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử vụ án vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20-12-2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, nhưng bà H, ông Q cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo luật định.

Về hôn nhân: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 29-6-2012, nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 (theo bà H xác định), sau 10 năm chung sống (theo ông Q xác định) thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do những bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, thường hay cự cải, không còn quan tâm, chăm sóc, tin tưởng lẫn nhau, dẫn đến ông bà tự ý sống ly thân nhau từ đó cho đến nay mà không hàn gắn lại được.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,…”, nhưng bà H và ông Q đã không thực hiện được các nghĩa vụ này với nhau. Hiện tại, ông bà mỗi người mỗi việc, sống ở hai nơi khác nhau, không còn quan tâm, cũng không liên hệ để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tòa án đã thông báo mời hòa giải vào ngày 03-12-2024 để bà H, ông Q gặp nhau trao đổi về tình trạng hôn nhân giữa hai người, nhưng ông bà đều có đơn xin vắng mặt và cùng có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ vì mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn lại được.

Từ những nhận định trên, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng bà H, ông Q đang trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nên bà H và ông Q thuận tình ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q chỉ có một người con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012, hiện đang sống chung với ông Q. Tại đơn tự khai và yêu cầu giải quyết - xét xử vắng mặt ngày 06-12-2024, cháu H1 nêu nguyện vọng muốn được sống chung với cha trường hợp khi giải quyết cha mẹ ly hôn. Cả bà H và ông Q đều thống nhất với nguyện vọng của cháu H1. Nên cần xử giao con chung cho ông Q được quyền nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Vì bà H, ông Q chưa đặt ra yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tòa án đã giải thích theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q thống nhất xác định không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về nợ chung: Do bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q cùng thống nhất xác định không nợ ai, cũng không ai nợ ông bà, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Do bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q tự nguyện thuận tình ly hôn, nên ông, bà chỉ phải chịu 50% mức án phí quy định đối với yêu cầu ly hôn (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định).

Xét quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 70, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 53, 54, 55, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Mục 11 Phần IV về tố tụng dân sự Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02-8-2021 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Bích H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q tự nguyện thuận tình ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 31-12-2012 cho ông Trần Văn Q nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 là muốn được sống chung với cha.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q chưa đặt ra yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q thống nhất xác định không có, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Lưu Thị Bích H và ông Trần Văn Q thống nhất xác định không nợ ai, cũng không ai nợ ông bà, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Lưu Thị Bích H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0004899 ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long. Hoàn trả lại cho bà H 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.

Ông Trần Văn Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ