vanban.org

Bản án 77/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/02/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Đỗ Phan Minh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 51.867.615 (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi bảy ngàn sáu trăm mười lăm) đồng, trong đó, nợ gốc: 38.072.267 (ba mươi tám triệu không trăm bảy mươi hai ngàn hai trăm sáu mươi bảy) đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng S - Đỗ Phan Minh N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/DS-ST
Ngày: 27-02-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Lê Diễm Thúy

Các i thẩm nh n d n:

1/ Ông Nguyễn Việt Dũng

2/ Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên t a Bà Vũ Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- i diện Viện ki m sát nh n d n u n T n ình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên t a Bà Nguyễn Bảo Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 467/TLST-DS ngày 13/11/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần S; Trụ sở: phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Ma Khánh C, sinh năm 1984; địa chỉ liên hệ: Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Theo giấy ủy quyền số M/2023/GUQ-CNTB ngày 31/7/2023) (Ông C có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đỗ Phan Minh N, sinh năm 1987

Địa chỉ: Phường K, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (Ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/02/2022, Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi là Nguyên đơn/Ngân hàng) có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ông Đỗ Phan Minh N (sau đây gọi là Bị đơn), bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông N, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ, ông Đỗ Phan Minh N đã thực hiện các giao dịch với số tiền 248.206.860 đồng nhưng chỉ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 222.345.657 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Phan Minh N vẫn không có thiện chí trả số tiền còn nợ, vi phạm nghĩa vụ tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 10/6/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 27/02/2024, ông Đỗ Phan Minh N còn nợ Ngân hàng tổng cộng: 51.867.615 đồng. Trong đó, nợ gốc: 38.072.267 đồng; nợ lãi quá hạn: 13.795.348 đồng. Ngân hàng yêu cầu ông N phải trả ngay một lần toàn bộ số tiền nợ trên và phải chịu các khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 28/02/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn – ông Đỗ Phan Minh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n quận T n Bình phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Do ông Đỗ Phan Minh N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu Hội đồng xét xử buộc ông Đỗ Phan Minh N phải thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là ông Đỗ Phan Minh N. Tại kết quả xác minh của Công an Phường K, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông N có hộ khẩu thường trú tại Phường K quận Y Thành phố Hồ Chí Minh, hiện không còn cư ngụ tại địa phương từ năm 2023 đến nay. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét Ngân hàng yêu cầu ông Đỗ Phan Minh N thanh toán số tiền nợ tổng cộng là 51.867.615 đồng và lãi phát sinh từ ngày 28/02/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng:

Căn cứ theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/02/2022, bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S), xác nhận của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì có đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có cấp thẻ tín dụng cho Bị đơn với hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 248.206.860 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/12/2023 Nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 38.072.267 đồng sang nợ quá hạn. Đối chiếu lời khai của Nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xét thấy Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết với Nguyên đơn. Tính đến ngày 27/02/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền 51.867.615 đồng, trong đó, nợ gốc: 38.072.267 đồng; nợ lãi quá hạn: 13.795.348 đồng. Xét thấy việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả ngay một lần toàn bộ số tiền trên và tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/02/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

Phương thức và thời hạn thanh toán: Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Nguyên đơn, nên Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải có nghĩa vụ trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.593.381 đồng.

Hoàn lại cho Nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.004.461 đồng (một triệu không trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm sáu mươi mốt) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023951 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ các Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Đỗ Phan Minh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 51.867.615 (năm mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi bảy ngàn sáu trăm mười lăm) đồng, trong đó, nợ gốc: 38.072.267 (ba mươi tám triệu không trăm bảy mươi hai ngàn hai trăm sáu mươi bảy) đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày 27/02/2024 là 13.795.348 (mười ba triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm bốn mươi tám) đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 28/02/2024 ông Đỗ Phan Minh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 14/02/2022, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Thời hạn và phương thức trả: Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Phan Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.593.381 đồng (hai triệu năm trăm chín mươi ba ngàn ba trăm tám mươi mốt) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.004.461 đồng (một triệu không trăm lẻ bốn ngàn bốn trăm sáu mươi mốt) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023951 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4/Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nh n

Cỡ chữ