- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "hợp đồng cầm cố"
- Tòa quyết gì? Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 4
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NH, TỈNH A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 77/2024/DS-ST |
Ngày: 31 – 12 - 2024 V/v “Tranh chấp về hợp đồng cầm cố”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NH, TỈNH A
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh T. Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Minh C; 2/ Ông Trần Duy H. - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc K, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố NH. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NH tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc O - Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NH, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2024/QĐST-DS, ngày 13 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khóm AL, phường ABA, thành phố NH, tỉnh A. - Bị đơn: Anh Nguyễn Phước H, sinh năm 1983 và chị Võ Thị T, sinh năm 1988. Cùng địa chỉ: Khóm AH, phường ABA, thành phố NH, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hồ Văn T trình bày: Vào ngày 19/8/2023 anh Nguyễn Phước H làm giấy tay cố cho anh 1,5 công đất toạ lạc tại Khóm An Lộc, phường ABA, thành
phố NH, đất chuyên trồng lúa nước với số tiền là 40.000.000đ, thời hạn cố là 02 năm tính từ vụ đông xuân năm 2023 đến mùa đông xuân năm 2024. Tuy nhiên, đến nay chưa hết thời hạn cố đất mà anh Nguyễn Phước H đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác. Nay anh yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc anh Nguyễn Phước H và vợ là chị Võ Thị T cùng có trách nhiệm trả cho anh số tiền cố đất là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. - Bị đơn anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T vắng mặt và cũng không có ý kiến gửi cho Toà án. - Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NH phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: - Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ kiện Tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. - Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn thống nhất xét xử vắng mặt anh H, chị T. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xét xử vắng mặt hai đương sự này. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với hai đương sự nêu trên. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Văn T, xét thấy, anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T có làm giấy cố đất và có nhận tiền cố đất của anh Hồ Văn T tổng trị giá 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) là có thật, anh T có cung cấp tờ Giấy cố đất ngày 19/8/2023 do anh Nguyễn Phước H ký tên. Tuy nhiên, chưa đến hạn theo thoả thuận cố đất nêu trên anh H tự ý chuyển nhượng đất cho người khác, anh T không sử dụng đất được nên yêu cầu anh Nguyễn Phước H cùng vợ là chị Võ Thị T trả lại tiền cố đất. Xét thấy, anh H đã vi phạm nghĩa vụ và cam kết cố đất đối với anh T là lỗi của anh H. Anh Hồ Văn T khằng định chỉ khởi kiện yêu cầu anh H, chị T trả tiền cố đất, không tranh chấp gì liên quan đến phần đất cố nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H, chị T không có văn bản ý kiến gửi
cho Toà án và không có mặt theo các văn bản tố tụng triệu tập của Toà án, coi như anh H, chị T từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn anh Hồ Văn T cung cấp kèm theo đơn khởi kiện Toà án xem xét theo quy định của pháp luật. Vì vậy, xét yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Văn T là có cơ sở chấp nhận. Anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T cùng có trách nhiệm trả cho anh Hồ Văn T số tiền cố đất là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). [3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Văn T được chấp nhận nên anh Hồ Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí theo quy định. Anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T phải có trách nhiệm nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. [4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên chấp nhận. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 313, Điều 315 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 4 Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ Văn T. - Buộc anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T cùng có trách nhiệm trả cho anh Hồ Văn T số tiền cố đất còn thiếu là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). 2/ Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 3/ Về án phí: - Hồ Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.000.000đ (Một triệu đồng) theo biên lai số 0012046, ngày 10/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
- Buộc anh Nguyễn Phước H và chị Võ Thị T phải có trách nhiệm nộp 2.000.000đ (Hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự. - Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. - Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. NH; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh T |