- Tranh chấp gì? án hình sự — "HỦY HOẠI TÀI SẢN - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Ka D, K’B và K’Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 77/2023/HSST |
Ngày: 20-9-2023
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
ông Phạm Đức Minh.
bà Hồ Thị Hồng Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Trƣơng Quang Vũ – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 18/8/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HS ngày 08/9/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ka D, sinh năm 1968, tại Lâm Đồng; NKTT và chỗ ở: thôn 2,
xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: làm vườn; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Châu mạ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông K’Brềm và bà Ka Krếu, không rõ năm sinh, đã chết. Chồng: K’Đ, sinh năm 1968. Hiện trú tại: xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/5/2023 cho đến nay tại xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
“Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.
2. Họ và tên: K’B, tên gọi khác: Cu, sinh năm 1984, tại Lâm Đồng. NKTT
và chỗ ở: thôn 2, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: làm vườn; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Châu mạ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông K’Brềm và bà Ka Krếu, không rõ năm sinh, đã chết. Vợ: Ka Dỉs, sinh năm 1986. Hiện trú tại: xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/5/2023 cho đến nay tại xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
“Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.
3. Họ và tên: K’Đ, tên gọi khác: K’Peo, sinh năm 1968, tại Lâm Đồng.
NKTT và chỗ ở: thôn 2, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: làm vườn; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Châu mạ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông K’Têl và bà Ka Dổi, không rõ năm sinh, đã chết. Vợ: Ka D, sinh năm 1968. Hiện trú tại: xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/5/2023 cho đến nay tại xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
“Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.
* Bị hại:
1. Chị Ka H, sinh năm 1987. Có mặt
Địa chỉ: thôn 2, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
2. Chị Ka C, sinh năm 1975. Có mặt
Địa chỉ: tổ 17, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
* Ngƣời làm chứng:
Chị Ka L, sinh năm 1978. Có mặt
Địa chỉ: thôn 2, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2016 các anh chị em ruột trong gia đình gồm chị Ka H, sinh năm 1987; chị Ka L, sinh 1978, chị Ka C, sinh 1975, anh K’B và chị Ka D tiến hành phân chia tài sản của cha mẹ để lại sau khi chết. Chị Ka L xin tặng lại phần tài sản của bản thân được thừa kế cho Ka H, Ka D, Ka C và K’B. Chị Ka H được nhận thừa kế thửa đất số 1893 tờ bản đồ 28, xã Lộc Tân, diện tích 3338m2; Ka D được nhận thừa kế thửa đất số 552 tờ bản đồ 28, xã Lộc Tân, diện tích 1009m2; chị Ka C được nhận thừa kế thửa đất số 47 tờ bản đồ 28, xã Lộc Tân, diện tích 2235m2 (sau này được đính chính lại là thửa 447 tờ bản đồ 28); K’B được nhận thừa kế thửa đất 47 tờ bản đồ 25, xã Lộc Tân, diện tích 5793m2. Sau khi phân chia xong, mọi người sử dụng các thửa đất đã được phân chia và không xảy ra tranh chấp. Đối với nguồn gốc và chủ sở hữu của các thửa đất trên đã được phân chia giải quyết tại văn bản phân chia di sản thừa kế lập ngày 22/12/2016 (được UBND xã Lộc Tân, huyện Bảo L chứng thực). Khoảng cuối năm 2021, Ka D và K’B yêu cầu chị Ka H chia lại cho cả hai khoảng 1.000m2 đất mà chị Ka H đang canh tác nhưng không được đồng ý. (Theo kết quả đo vẽ thì diện tích đất này thuộc các thửa đất 447, 552, 1893 tờ bản đồ 28 – nằm ở phía sau nhà bà Ka H, cách một con đường đất).
Khoảng 09 giờ ngày 19/02/2022, Ka D cùng K’B và K’Đ bàn bạc thống nhất đi đến thửa đất mà chị H đang canh tác và cả 03 dùng thước đo chiều ngang mặt đường tính từ phần đất tiếp giáp với nhà ông K’Rép trở ra là 10m rồi chôn 01 cọc bê tông tại vị trí 10m. Sau đó, cả ba tiếp tục trồng hàng cây thần tài kéo dài khoảng 100m từ cọc bê tông về phía sau của thửa đất. Sau khi làm xong, cả ba người về nhà của mình, một lúc sau K’Đ tới nhà K'B. Tại nhà K’B, Ka D nói với K’B phải phá cả cây phê đi mới giải quyết được việc thì K’B, K’Đ đồng ý. Sau đó K’B lấy 01 cưa máy cầm tay hiệu STIHL đến phần diện tích đất đã đóng cọc bê tông, trồng cây thần tài và dùng cưa máy cưa hạ các cây trồng trên phần diện tích đất này. Trong lúc K’B cưa cây trồng thì Ka D về nhà lấy 01 cưa cầm tay hiệu BARKER đến cưa hạ các cây trồng cùng K’B, K’Đ kéo các thân cây đã bị cưa hạ gom lại một chỗ. Trong lúc nhóm của Ka D cưa hạ cây trồng, thì chị Ka H biết vụ việc và đến Công an xã Lộc Tân trình báo vụ việc.
Quá trình khám nghiệm và xác định hiện trường ghi nhận có 155 cây trồng bị cưa hạ hoàn toàn, trong đó có 154 cây cà phê và 01 cây bơ gồm:
+ 18 cây cà phê và 01 cây bơ thuộc thửa đất số 1893 tờ bản đồ 28 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Ka H.
+ 50 cây cà phê thuộc thửa đất số 447 tờ bản đồ 28 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Ka C.
+ 86 cây cà phê thuộc thửa đất số 552 tờ bản đồ 28 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Ka D.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo L kết luận: 18 cây cà phê Robusta, trên 5 năm tuổi, chất lượng loại C, thiệt hại 100% có giá: 2.556.900 đồng, 50 cây cà phê Robusta, trên 5 năm tuổi, chất lượng loại C, thiệt hại 100% có giá: 7.102.500 đồng, 86 cây cà phê Robusta, trên 5 năm tuổi, chất lượng loại C, thiệt hại 100% có giá: 12.216.300 đồng, 01 cây bơ, 02 năm tuổi, chất lượng cây loại B, thiệt hại 100% có giá: 152.550 đồng.
Như vậy giá trị cây trồng mà Ka D, K’Đ và K’B gây thiệt hại cho chị Ka H là 2.556.900 đồng (gồm giá trị của 18 cây cà phê Robusta và 01 cây bơ); thiệt hại của chị Ka C là 7.102.500 đồng (giá trị 50 cây cà phê Robusta). Tổng giá trị thiệt hại là 9.811.950 đồng.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, không khiếu nại hay tranh luận gì.
Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị hại Ka H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 2.556.900 đồng, bị hại Ka C yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 7.102.500 đồng, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng 71/CT-VKSBL ngày 16/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Ka D, K’B và K’Đ về tội: Hủy hoại tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i , s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ka D từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Xử phạt bị cáo K’B từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Xử phạt bị cáo K’B từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc các bị cáo bồi thường cho bị hại Ka H số tiền 2.556.900 đồng, bồi thường cho bị hại Ka C số tiền 7.102.500 đồng. Các bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại (được nộp tại tài khoản tạm gửi của chi cục THA dân sự huyện Bảo L ngày 11/9/2023), số tiền còn lại 340.600 đồng đề nghị trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 cưa tay hiệu Barker, dài 0,5m, có cán và lưỡi cưa màu đen; 01 cưa máy cầm tay hiệu STIHL C09 Electronic màu xám, đen, đỏ. Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn thân cây cà phê dài 80cm, đường kính 04cm.
-Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo xin lỗi bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định:
Do có mâu thuẫn tranh chấp về việc phân chia tài sản của bố mẹ để lại nên ngày 19/02/2023 Ka D, K’B và K’Đ đã dùng cưa máy cắt hạ 68 cây cà phê Robusta và 01 cây bơ của chị Ka H và chị Ka C.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo L kết luận: 18 cây cà phê Robusta, trên 5 năm tuổi, chất lượng loại C, thiệt hại 100% có giá: 2.556.900 đồng, 50 cây cà phê Robusta, trên 5 năm tuổi, chất lượng loại C, thiệt hại 100% có giá: 7.102.500 đồng, 01 cây bơ, 02 năm tuổi, chất lượng cây loại B, thiệt hại 100% có giá: 152.550 đồng.
Như vậy, hành vi của Ka D, K’B và K’Đ đã dùng cưa máy và cưa tay cắt hạ 68 cây cà phê Robusta và 01 cây bơ của chị Ka H và chị Ka C, hậu quả làm 68 cây cà phê Robusta và 01 cây bơ bị cưa hạ hoàn toàn nên xác định thiệt hại về tài sản là toàn bộ giá trị của 68 cây cà phê Robusta và 01 cây bơ thiệt hại 100%, có tổng giá trị thiệt hại là 9.811.950 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo Ka D, K’B và K’Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người bị hại, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa pH, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm nhưng vẫn cố tình vi phạm, do vậy cần phải xử lý các bị cáo tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo Ka D là người khởi xướng việc chặt cây cà phê của bị hại và là người trực tiếp cưa hạ cây cà phê, bị cáo K’B, K’Đ khi được bị cáo Ka D rủ thì thực hành tích cực, K’B trực tiếp cưa hạ cây cà phê, bị cáo K’Đ gom cây đã bị các bị cáo cưa hạ lại một chỗ.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bồi thường thiệt hại, người bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, do đó cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét đề nghị của viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra. Tuy nhiên mức đề nghị chưa thể hiện được sự phân hóa tội phạm phù hợp với mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, do đó không cần thiết xử phạt tù giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa pH giám sát giáo dục theo qui định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là người đồng bào dân tộc có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ka H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 2.556.900 đồng, bị hại Ka C yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 7.102.500 đồng. Do vậy cần buộc các bị cáo bồi thường cho chị Ka H số tiền 2.556.900 đồng, cho chị Ka C số tiền 7.102.500 đồng. Các bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại (được nộp tại tài khoản tạm gửi của chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L ngày 11/9/2023), số tiền còn lại 340.600 đồng cần trả lại cho các bị cáo theo tỉ phần bằng nhau nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 cưa tay hiệu Barker, dài 0,5m, có cán và lưỡi cưa màu đen; 01 cưa máy cầm tay hiệu STIHL C09 Electronic màu xám, đen, đỏ; tịch thu tiêu hủy 02 đoạn thân cây cà phê dài 80cm, đường kính 04cm.
Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án cần buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Ka D, K’B và K’Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điều 17; điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ka D 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày 20/9/2023.
Xử phạt bị cáo K’B 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày 20/9/2023.
Xử phạt bị cáo K’Đ 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày 20/9/2023.
Giao bị cáo Ka D, K’B và K’Đ cho UBND xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa pH trong việc giám sát giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo qui định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Ka D, K’B và K’Đ bồi thường cho chị Ka H số tiền 2.556.900 đồng, bồi thường cho chị Ka C số tiền 7.102.500 đồng. Các bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại (được nộp tại tài khoản tạm gửi của chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L ngày 11/9/2023), số tiền còn lại 340.600 đồng trả lại cho các bị cáo theo tỉ phần bằng nhau nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn thân cây cà phê dài 80cm, đường kính 04cm. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 cưa tay hiệu Barker, dài 0,5m, có cán và lưỡi cưa màu đen; 01 cưa máy cầm tay hiệu STIHL C09 Electronic màu xám, đen, đỏ.
4. Về án phí, lệ phí Tòa án: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ka D, K’B và K’Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 20/9/2023 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo L; - Chi cục THADS H Bảo L; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ Nguyễn Thị Tài Lƣu Đức Vinh | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Vũ Thị Thúy Thành THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN Nguyễn Văn Linh |