- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu hành tiền giả - phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (điều 207 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lưu hành tiền giả”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 207 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2023/HS-ST Ngày: 25-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Võ Văn Hiệp;
- Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên; ông Lê Huy Nghĩa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1957, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 1, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); bị cáo có vợ tên Võ Thị H (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/8/1991 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội buôn bán hàng cấm và 03 tháng tù về tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa, theo Bản án số 58/HS-ST; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2022 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Bà Lê Thị L, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 1 đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Hà Văn H, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Lệ Th, ông Nguyễn Phú H, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 25/5/2022, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen biển số 51Y4-6661 từ huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực chợ tự phát trên đường 30 tháng 4 thuộc phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để lưu hành tiền giả. H sử dụng 01 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng mua 02 thẻ nạp tiền điện thoại của ông Hà Văn H. Ông H phát hiện tiền giả nên trả lại cho H. H tiếp tục sử dụng tờ tiền giả này mua 01 con gà của bà Nguyễn Thị C ở gần đó thì bị bà C phát hiện, trả lại tờ tiền giả cho H, H trả lại con gà cho bà C.
Tiếp đó, H sử dụng 01 tờ tiền giả mua của bà Nguyễn Thị Lệ Th 02 kg trái măng cụt, bà Th phát hiện tiền giả nên trả lại cho H. Lúc này, bà C báo cho ông Nguyễn Phú H là lực lượng kiểm tra quy tắc đô thị của Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ đang làm nhiệm vụ gần đó đến bắt giữ H cùng tang vật giao cho Công an phường Phú Thọ, thu giữ: 43 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng, gồm có: 08 tờ cùng số sê ri DT18423212; 05 tờ cùng số sê ri BK20367018; 05 tờ cùng số sê ri FG18921016; 02 tờ cùng số sê ri HQ18921219; 02 tờ cùng số sê ri QX18921008; 02 tờ cùng số sê ri BK20367036; 02 tờ cùng số sê ri BK20367013; 02 tờ cùng số sê ri BK20367071; 02 tờ cùng số sê ri DT18423216; 02 tờ cùng số sê ri DT18423283; 11 tờ có các số sê ri: FE18921076, DT18423278, EQ18921307, HQ18921280, AQ18921296, FG18921063, JK20367042, DT18423206, FG18921014, HQ19821299 và DT18423274; số tiền thật 9.385.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen biển số 51Y4-6661 và một số giấy tờ tùy thân, tài sản khác. Vụ án sau đó được chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Bình Dương để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra còn xác định, khoảng 17 giờ ngày 24/5/2022 H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen biển số 51Y4-6661 đến tiệm tạp hóa của bà Lê Thị L, H sử dụng 01 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng mua 0,5kg cà phê bột, bà L thối lại 420.000 đồng cho H. Đến ngày 30/5/2022, bà L đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Bình Dương nộp đơn tố giác và giao tờ 01 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng có số seri DT18423216.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn H khai nhận: H làm nghề tài xế, ngày 25/5/2022, H nhặt được 01 bao lì xì màu đỏ ở xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong có khoảng hơn 30 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng. H đem số tiền giả này đến địa bàn phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương lưu hành thì bị bắt quả tang. H không nhớ rõ ngày 24/5/2022 có sử dụng 01 tờ tiền giả mua hàng tại tiệm tạp hóa của bà Lê Thị L hay không. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bà L, đặc điểm nhận dạng của H và phương tiện là xe mô tô mà H sử dụng, kết quả trích xuất dữ liệu camera an ninh, đặc điểm tờ tiền giả bà L giao nộp... đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn H là người sử dụng tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng mua cà phê tại tiệm tạp hóa của bà Lê Thị L vào ngày 24/5/2022.
Theo Kết luận giám định số 246/KL-KTHS ngày 01/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: 43 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H gồm có: 08 tờ cùng số sê ri DT18423212; 05 tờ cùng số sê ri BK20367018; 05 tờ cùng số sê ri FG18921016; 02 tờ cùng số sê ri HQ18921219; 02 tờ cùng số sê ri QX18921008; 02 tờ cùng số sê ri BK20367036; 02 tờ cùng số sê ri BK20367013; 02 tờ cùng số sê ri BK20367071; 02 tờ cùng số sê ri DT18423216; 02 tờ cùng số sê ri DT18423283; 11 tờ có các số sê ri: FE18921076, DT18423278, EQ18921307, HQ18921280, AQ18921296, FG18921063, JK20367042, DT18423206, FG18921014, HQ19821299 và DT18423274 là tiền giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Theo Kết luận giám định số 268/KL-KTHS(TL) ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: 01 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, loại polymer, đề “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, có số seri DT18423216 (do bà Lê Thị L giao nộp) là tiền giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Tại Kết luận giám định số 297/KL-KTHS(TL) ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định số tiền 9.385.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H là tiền thật
Tại Kết luận giám định số 395/KL-KTHS(SKSM) ngày 13/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Xe mô tô 02 bánh kiểu Dream, mang biển kiểm soát 51Y4-6661 có số khung VH100*0110322834* và không xác định được số máy, lý do chữ số bị mài mất sâu không đọc được.
- Vật chứng thu giữ:
+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen biển số 51Y4-6661 mà Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội, H khai khoảng năm 2018 một người bạn tên D (không xác định được lai lịch) mượn xe mô tô (không rõ biển số) của H sử dụng rồi đem đi cầm, sau đó Dũng không chuộc lại xe trả cho H mà đưa xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen biển số 51Y4-6661 để H sử dụng làm phương tiện đi lại.
+ Đối với 1,9kg trái măng cụt thu giữ của Nguyễn Văn H, do hàng hóa mau hư hỏng nên ngày 30/7/2022 Cơ quan An ninh điều tra đã quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà Lê Thị L không yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 420.000 đồng.
Cáo trạng số 132/CT-VKSBD-P1 ngày 10/10/2022 của Viện Kiểm sát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lưu hành tiền giả” theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 2, khoản 5 Điều 207; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
+ Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bao lì xì màu đỏ bên ngoài có chữ Tết an nhiên; 04 gói thuốc lá hiệu Sài Gòn (01 gói đã qua sử dụng); 600g bánh gạo lứt và bánh cay (me tươi cay).
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen, biển số 51Y4-6661;
+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11; 01 Căn cước công dân tên Nguyễn Văn H; 01 Chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn H; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, D tên Nguyễn Văn H; 03 thẻ cào điện thoại mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng; 01 thẻ nạp tiền điện thoại mệnh giá 50.000 đồng; 01 ví da màu nâu bên ngoài có chữ Cocodile;
+ Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.385.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án;
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận: Ngày ngày 25/5/2022, bị cáo nhặt được 01 bao lì xì màu đỏ tại lề đường thuộc xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong có khoảng hơn 30 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó bi cáo đến địa bàn phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mua hai thẻ nạp điện thoại của ông Hà Văn H; mua gà của bà Nguyễn Thị C và mua măng cụt của bà Nguyễn Thị Lệ Th nhưng cả 03 lần mua đều bị người bán trả lại với lý là tiền giả. Bị cáo nghi ngờ số tiền nhặt được là tiền giả nhưng không xác định chắc chắn là giả hay thật. Sau khi sử dụng số tiền giả để mua hàng, bị cáo mới biết mình đã vi phạm pháp luật. Còn đối với việc mua cà phê bột của bà Lê Thị L vào ngày 24/5/2022 bị cáo không nhớ rõ là có hay không. Bị cáo rất hối hận và không có ý kiến tranh luận; trong lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra, Công an tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai số tiền mà bị cáo sử dụng mua hàng của ông H, bà C và bà Th vào ngày 25/5/2022 là do bị cáo nhặt được cùng ngày và chỉ nghi ngờ là tiền giả, chứ không xác định được là giả hay thật nên đem đi mua hàng để kiểm chứng lại. Tuy nhiên, theo Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang (BL 03); Biên bản ghi lời khai (BL 84, 105, 106); Bản tự khai (BL125) H đã thừa nhận: “Do nhặt được 43 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng không pH do cơ quan Nhà nước in nên nảy sinh ý định sử dụng số tiền này”; “…Tôi đã sai khi cầm tiền giả đi lưu hành, mặc dù trước đó đã có người cảnh báo tôi nhưng tôi vẫn cố chấp sử dụng”; “Nếu tôi mua được hàng hoá và được thối lại tiền thật thì tôi (H) sẽ sử dụng vào tiêu xài cá nhân”; “…tôi bắt đầu lấy số tiền này ra tiêu xài thử vì nghi đây là tiền giả”; “… mua một con gà giá 110.000 động, … người phụ nữ cầm tờ tiền tôi vừa đưa vò lại, tờ tiền nhăn nhúm, người phụ nữ nói tiền giả, trả lại tôi và lấy lại con gà”; “tôi (H) nhận thức được hành vi tiêu thụ tiền giả là phạm pháp, pH chịu tội”; “tôi (H) lượm được tiền giả ở Củ Chi, đi qua Bình Dương sử dụng tiền giả đó mà không khai báo với cơ quan chính quyền là sai”;
Từ những khai nhận của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định bị cáo biết số tiền trên là tiền giả và đem đi lưu hành tại phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Cũng tại thời điểm đó, bị cáo đang có số tiền thật là 9.385.000 đồng trong ví nhưng không sử dụng tiền thật mà lại sử dụng tiền giả để mua các loại hàng hoá tại ba địa điểm khác nhau, mỗi lần mua hàng đều bị người bán hàng trả lại với lý do là tiền giả. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bằng việc mua hàng hoá có giá trị nhỏ hơn 500.000 đồng và thanh toán bằng tờ tiền giả có mệnh giá 500.000, để đổi lấy lại tiền thật.
Mặt khác, bị cáo khai nhặt được số tiền giả vào ngày 25/5/2022 và chỉ thực hiện việc mua hàng trong ngày, không nhớ rõ ngày 24/5/2022 có sử dụng tiền giả mua hàng của bà Lê Thị L hay không. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án (lời khai của bị hại Lê Thị L, người làm chứng; biên bản nhận dạng; trích xuất camera an ninh…) thì ngày 24/5/2022 bị cáo đã sử dụng 01 tờ tiền giả mệnh giá 500.000 đồng có số sêri DT18423216 mua cà phê bột của bà L và được thối lại 420.000 đồng tiền thật; ngoài ra tờ tiền giả này có số sêri trùng khớp với tờ tiền giả mà bị cáo mua hàng ngày 25/5/2022. Như vậy, bị cáo đã có được tiền giả trước ngày 25/5/2022 (ngày mà bị cáo khai nhặt được); do đó lời khai của bị cáo là không phù hợp, có sự mâu thuẫn với hành vi khách quan mà bị cáo thực hiện.
Từ những phân tích trên, đủ cơ sở kết luận bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thông qua các giao dịch mua hàng vào ngày 24/5/2022 và ngày 25/5/2022, thanh toán bằng tiền giả, để đổi lấy lại tiền thật. Tổng số tiền mà bị cáo lưu hành là 44 tờ mệnh giá 500.000 đồng, tương đương với 22.000.000 đồng tiền thật. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lưu hành tiền giả” được quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý tài chính của Nhà nước và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết rõ việc lưu hành tiền giả là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, từng bị Toà án xét xử về tội buôn bán hàng cấm và sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (nhưng có phần hạn chế), là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 bao lì xì màu đỏ bên ngoài có chữ Tết an nhiên; 04 gói thuốc lá hiệu Sài Gòn (01 gói đã qua sử dụng); 600g bánh gạo lứt và bánh cay (me tươi cay) là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen, biển số 51Y4-6661, bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11; 01 Căn cước công dân, 01 Chứng minh nhân dân và 01 Giấy phép lái xe hạng A1, D cùng mang tên Nguyễn Văn H; 03 thẻ cào điện thoại mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng; 01 thẻ nạp tiền điện thoại mệnh giá 50.000 đồng; 01 ví da màu nâu bên ngoài có chữ Cocodile, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.385.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo việc thi hành án;
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 5 Điều 207; khoản 2 Điều 35; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lưu hành tiền giả”.
1. Về hình phạt:
1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2022.
1.2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao lì xì màu đỏ bên ngoài có chữ Tết an nhiên (bên trong không có gì); 04 gói thuốc lá hiệu Sài Gòn (01 gói đã qua sử dụng); 600g bánh gạo lứt và bánh cay (me tươi cay).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream màu đen, biển số 51Y4-6661 (không kiểm tra số khung, số máy, không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu đen (không kiểm tra số IMEI và chi tiết tình trạng hoạt động); 01 (một) Căn cước công dân tên Nguyễn Văn H; 01 (một) Chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn H; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, D tên Nguyễn Văn H; 03 (ba) thẻ cào điện thoại mạng Mobifone mệnh giá 100.000 đồng; 01 (một) thẻ nạp tiền điện thoại mệnh giá 50.000 đồng; 01 (một) ví da màu nâu bên ngoài có chữ Cocodile (bên trong không có gì).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 003.23 ngày 10/10/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan an ninh điều tra, Công an tỉnh Bình Dương).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 9.385.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H để đảm bảo thi hành án (theo uỷ nhiệm chi ngày 11/10/2022 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sinh |