vanban.org

Bản án 77/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 12/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1 Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01(một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. 2 Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T và Dp - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST
Ngày 12-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Đình Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tuấn Khang và bà Lê Thị Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Thái Lê Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLST- HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn T; sinh năm 2005 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú và chỗ ở: Thôn F, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1975 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1979, đồng trú tại: Thôn F, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị tạm giữ từ ngày 05/8/2023 sau đó chuyển tạm giam; Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

2. Lý Thiên H1, sinh năm 2005 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú và chỗ ở: Tổ dân phố C, Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Lý Thiên L, sinh năm 1977 và con bà Nguyễn Bích V, sinh năm: 1981, đồng trú tại: Tổ dân phố C, Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị tạm giữ từ ngày 05/8/2023 sau đó chuyển tạm giam; Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

3. Đinh Văn D, sinh ngày 28/10/2005 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú và chỗ ở: Thôn G, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Đinh Văn P, sinh năm 1984 và con bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1985, đồng trú tại: Thôn G, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01, ngày 27/9/2022 bị Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích số tiền 3.250.000 đồng, theo Quyết định số 000552/QĐ - XPHC; Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị tạm giam từ ngày 06/10/2023 sau đó chuyển tạm giam; Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

- Có mặt.

- Người Bị hại:

1. Ông Nguyễn Thanh N sinh năm: 1980; Địa chỉ: Khóm E, phường F, Thành phố C, tỉnh Cà Mau – Vắng mặt.

2. Bà Lê Thị Kim O, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Huỳnh Quốc H3, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

2. Ông Từ Quốc U, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 04/8/2023, Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D ăn nhậu rồi cùng nhau đi hát tại quán K thuộc tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 4 giờ ngày 05/8/2023 thì tất cả đi về, D đi ra bên hông quán nhặt 01 thanh sát (theo lời khai có đặc điểm vuông dài khoảng hơn 1m, rộng khoảng 03cm) rồi T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59S1 - 247.22 (theo lời khai xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn V1, sinh năm: 1961, trú tại Thôn G, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông mua lại của một người không rõ nhân thân, lai lịch) chở D và H1 đi trên Quốc lộ A về hướng thành phố G. Khi đi đến đoạn đường trước Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, D ném thanh sát vào 01 xe ô tô chạy ngược chiều (không xác định được biển kiểm soát) rồi T tiếp tục điều khiển xe chở D, H1 đi về thành phố G để H1 bắt xe đi Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến đoạn đường trước Nhà văn hóa huyện Đ thì T dừng xe, tại đây H1 nói buồn chán do không có tiền nên không đi thành phố Hồ Chí Minh nữa, T nói “chán đời thì đi ném xe”, thì H1 nói T ném xe tải nhưng T nói “ném xe tải làm gì, ném xe khách đi”, thì tất cả đồng ý. D, T, H1 mỗi người nhặt 01 cục đá, T nhặt thêm 01 chai thủy tinh rồi đưa cho H1 nhưng T quan sát thấy có đèn đường và C1 nhà dân ven đường nên T ném cục đá xuống rồi nói H1, D ném đá xuống và rủ cả ba chạy xuống đoạn đường thuộc khu vực thôn A, xã N để ném xe ô tô.

Sau đó, D điều khiển xe chở T, H1 đi đến ngã ba S thuộc thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì dừng lại. Tại đây D, H1, T nhặt nhiều cục đá rồi đứng bên đường rồi cùng nhau ném đá lần lượt trúng vào 03 xe ô tô khách đi trên đường theo hướng từ thành phố G về huyện Đ (không xác định được biển kiểm soát) nhưng những chiếc xe này không dừng lại mà tiếp tục chạy thẳng về hướng huyện Đ. Sau đó, D, T, H1 tiếp tục nhặt đá cầm trên tay rồi D điều khiển xe chở T, H1 đi theo Quốc lộ A về thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì gặp xe ô tô khách của nhà xe H4, biển kiểm soát: 51B - 057.91 do anh Từ Quốc Q (sinh năm: 1984, trú tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau) điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại, T cầm đá đang cầm trên tay ném trúng vào kính chắn gió cuối cùng bên trái của xe ô tô làm kính bị hư hỏng. D tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T và H1 đi đến cây xăng K1 rồi quay lại hướng đi xã N, để tiếp tục ném đá xe. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì thấy xe ô tô khách của nhà xe T2, biển kiểm soát: 50F - 003.79 do anh Huỳnh Quốc H3 (sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lăk) điều khiển theo hướng từ thành phố G đi huyện Đ, thì D điều khiển xe chạy song song bên phải xe ô tô khách này, H1 cầm đá ném trúng vào kính chắn gió phía trước bên phải làm kính xe bị hư hỏng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 08/8//2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận giá trị thiệt hại như sau:

– Gía trị thiệt hại tính thành tiền của 01 tấm kính chắn gió bên hông phía sau (bên tài) của xe ô tô khách loại xe giường nằm mang biển kiểm soát: 51B - 057.91 bị rạn nứt và hư hỏng hoàn toàn là 7.200.000 đồng (Trong đó tiền công sửa chữa là: 1.000.000 đồng và chi phí vật liệu thay thế là 6.200.000 đồng), giá trên chưa bao gồm thuế GTGT 10%.

- Giá trị thiệt hại thành tiền của 01 tấm kính chắn gió bên hông, phía trước (bên phụ) của xe ô tô khách loại xe giường nằm mang biển kiểm soát: 50F - 003.79 bị bể vỡ, như hỏng hoàn toàn là: 4.320.000 đồng, giá trên bao gồm tiền công sửa chữa và thuế GTGT 10% là: 320.000 đồng.

Giá trị thiệt hại tính thành tiền của các tài sản trên tại thời điểm ngày 05/8/2023 là: 11.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKS - ĐS ngày 16/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố các bị cáo về tội :“Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng, không oan và không bào chữa gì vê hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và khẳng định quyết định truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xem xét, đánh giá các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D về tội:“Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. .

Áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Thiên H1 mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn D mức án từ 07 tháng đến 10 tháng thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/10/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D mỗi bị cáo đã bồi thường 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Thanh N và bà Lê Thị Kim O. Số tiền còn lại 420.000đ (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng) buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Thanh N và bà Lê Thị Kim O.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tiêu hủy 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (9x6x3)cm; 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (8x9x4)cm; 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (13x9x6)cm.

- Đối với 01 thanh sắt (theo lời khai có đặc điểm vuông dài khoảng hơn 01m, rộng khoảng 03cm), Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã truy tìm nhưng không có kết quả, nên sẽ tiếp tục truy tìm khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59S1 - 247.22. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đang tiến hành xác minh chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, không bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của các bị cáo gây ra, các bị cáo khai nhận như sau:

Tại phiên toà, các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 05/8/2023 tại thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D đã có hành vi dùng đá ném vào xe ô tô khách Hòa Hiệp, biển kiểm soát: 51B

- 057.91 làm hư hỏng kính chắn gió bên hông phía sau (bên tài) gây thiệt hại 7.200.000 đồng và xe ô tô khách Tiến Oanh, biển kiểm soát 50F - 003.79 làm hư hỏng 01 tấm kính chắn gió bên hông, phía trước (bên phụ) trị giá 4.320.000 đồng. Tổng giá trị 11.520.000 đồng.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Điều 178 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: …

...” [3]. Đánh giá tính chất vụ án:

Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ gây thiệt hại tài sản cho các chủ phương tiện giao thông mà còn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và đáng bị lên án mạnh mẽ. Do đó, để đảm bảo việc giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra để giáo dục tư tưởng, giúp các bị cáo nhận thức đúng đắn về pháp luật, nâng cao ý thức khi thực hiện hành vi của bản thân, góp phần cho công tác phòng ngừa chung của xã hội.

Tuy nhiên, trong vụ án có nhiều bị cáo tham gia với vai trò, tính chất, mức độ và nhân thân của các bị cáo có khác nhau, nên cần có sự phân hóa để áp dụng hình phạt tương xứng với từng bị cáo để đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, cụ thể:

- Đối với bị cáo Đinh Văn D là người khởi xướng ra việc dùng thanh sắt và đá để ném vào các xe ô tô chạy ngược chiều, sau đó các bị cáo T và H1 đã cùng nhau thực hiện hành vi dùng đá ném vào xe ô tô. Bị cáo D có có 01 tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích và đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đề nghị truy tố về tội Cố ý gây thương tích trong vụ án Cố ý gây thương tích xảy ra ngày 15/11/2022. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt cao hơn hai bị cáo T và H1 là phù hợp.

- Đối với bị cáo T và H1 cùng tham gia theo sự khởi xướng của bị cáo D nhưng hành vi của hai bị cáo là như nhau. Do đó, cần xử phạt hai bị cáo mức hình phạt ngang nhau và thấp hơn bị cáo D là phù hợp.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Các bị cáo Phạm Văn T và Lý Thiên H1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, ngoài lần vi phạm pháp luật này thì không có vi phạm pháp luật nào khác. Bị cáo Đinh Văn D có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích và đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đề nghị truy tố về tội Cố ý gây thương tích trong vụ án Cố ý gây thương tích xảy ra ngày 15/11/2022 tại Tổ A, Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn, đã tự nguyện bội thường cho người bị hại. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T có ông N1 là người có công với Nhà nước đã được tặng thưởng huân huy chương nên bị cáo được áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo D khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nhưng đến khi xét xử bị cáo đã thành niên, do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (9x6x3)cm; 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (8x9x4)cm; 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (13x9x6)cm do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ là phù hợp.

- Đối với 01 thanh sắt (theo lời khai có đặc điểm vuông dài khoảng hơn 01m, rộng khoảng 03cm), Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã truy tìm nhưng không có kết quả, nên sẽ tiếp tục truy tìm khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59S1 - 247.22. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đang tiến hành xác minh chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Nguyễn Thanh N (Giám đốc chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn V2) có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 7.200.000 đồng; bà Lê Thị Kim O (Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn D1) có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 4.320.000 đồng. Qua yêu cầu của người bị hại các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho người bị hại mỗi bị cáo số tiền 3.700.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc tự nguyện bồi thường của các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

. Các tình tiết liên quan đến vụ án:

- Đối với các xe ô tô khách khác bị Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D ném gậy sắt và đá vào xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành điều tra xác minh, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

- Đối với ông Nguyễn Văn V1, quá trình điều tra xác định khi Đinh Văn D sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59S1 - 247.22, thì ông V1 không biết D dùng xe để thực hiện hành vi pham tội nên không đặt vấn đề giải quyết.

. Trong vụ án này hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau, hai bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 đều có nhân thân tốt, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần vi phạm pháp luật này không có vi phạm nào khác nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trực tiếp giám sát, giáo dục là đủ, tạo điều kiện cho các bị cáo trở thành công dân tốt, thể hiện sự khoan hồng của nhà nước và pháp luật.

. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01(một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Thiên T1 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.3 Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Văn D 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 06/10/2023.

1.4 Giao bị cáo Phạm Văn T về cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Đắk Nông; giao bị cáo Lý Thiên H1 về cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và gia đình các bị cáo phối hợp, giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo Phạm Văn T và Lý Thiên H1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

1.5 Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D mỗi bị cáo đã bồi thường 3.700.000đ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Thanh N và bà Lê Thị Kim O. Số tiền còn lại 420.000đ (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng) buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Thanh N và bà Lê Thị Kim O.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên:

- Tiêu hủy 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (9x6x3) cm; 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (8x9x4)cm; 01 cục đá vữa xi măng bê tông kích thước (13x9x6)cm.

- Đối với 01 thanh sắt (theo lời khai có đặc điểm vuông dài khoảng hơn 01m, rộng khoảng 03cm), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã truy tìm nhưng không có kết quả, nên sẽ tiếp tục truy tìm khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59S1 - 247.22. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đang tiến hành xác minh chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đắk Song ngày 20 tháng 11 năm 2023).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Phạm Văn T, Lý Thiên H1 và Đinh Văn D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Cỡ chữ