vanban.org

Bản án 77/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Trương Văn C được ly hôn chị Đặng Thị Thanh H.

Về con: Buộc chị Đặng Thị Thanh H giao hai con chung Trương Đông Đ, sinh ngày 15/9/2011 và Trương Văn Hải D, sinh ngày 21/7/2014 cho anh Trương Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đặng Thị Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Trương Văn C - Đặng Thị Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Trương Văn C được ly hôn chị Đặng Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77 /2023/HNGĐ-ST
Ngày 16/8/2023
V/v Ly hôn giữa anh C và chị H

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Huân

2. Bà Hoàng Thị Đào

Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh– Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2023/TLST – HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37 /2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trƣơng Văn C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm S, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Có mặt).

Bị đơn: Chị Đặng Thị Thanh H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khối S, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

( Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và tại biên bản ghi lời khai nguyên đơn anh Trương Văn C trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Đặng Thị Thanh H kết hôn vào ngày 07/01/2009, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh và chị Đặng Thị Thanh H tính tình không hợp nhau nên trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường hay xảy ra nhiều mâu thuẫn, xung đột, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ cuối năm 2017 đến nay anh chị đã sống ly thân. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên anh C yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với chị Đặng Thị Thanh H.

Về con chung: Anh Trương Văn C và chị Đặng Thị Thanh H có hai con chung là Trương Đông Đ, sinh ngày 15/9/2011 và Trương Văn Hải D, sinh ngày 21/7/2014. Nếu ly hôn, thì anh Trương Văn C xin được nuôi hai con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh Trương Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Đặng Thị Thanh H trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Đặng Thị Thanh H không có mặt để lấy lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên toà chị Đặng Thị Thanh H vẫn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51; khoản 1 điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trương Văn C được ly hôn chị Đặng Thị Thanh H. Về con chung: Giao hai con chung Trương Đông Đ, sinh ngày 15/9/2011 và Trương Văn Hải D, sinh ngày 21/7/2014 cho anh Trương Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành); Về tài sản chung: Anh Trương Văn C không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Anh Trương Văn C phải chịu án phí DSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Trương Văn C khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Đặng Thị Thanh H và yêu cầu về giao nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị Đặng Thị Thanh H đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối S, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn chị Đặng Thị Thanh H trong quá trình giải quyết vụ án thì chị H vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Đặng Thị Thanh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên cần căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt đối với chị Đặng Thị Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn C và chị Đặng Thị Thanh H đăng ký kết hôn vào ngày 07/01/2009 tại UBND thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của anh C và chị H đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung hòa thuận được một thời gian, rồi do tính tình không hợp nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017. Anh C xin ly hôn thì suốt quá trình giải quyết vụ án anh C không thay đổi ý kiến và tại phiên toà anh C vẫn giữ nguyên yêu cầu đó. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần giải quyết cho anh Trương Văn C được ly hôn chị Đặng Thị Thanh H.

Về con: Nếu ly hôn, xét nguyện vọng của đương sự về việc giao nuôi con, thấy rằng: Căn cứ vào nguyện vọng của đương sự, xét hoàn cảnh, điều kiện để nuôi con phát triển lành mạnh thể chất, trí tuệ nên cần giao con chung Trương Đông Đ, sinh ngày 15/9/2011 và Trương Văn Hải D, sinh ngày 21/7/2014 cho anh Trương Văn Cường trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành) và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đặng Thị Thanh H là hợp lý.

Về tài sản: Anh Trương Văn C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Trương Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Về hôn nhân: Cho anh Trương Văn C được ly hôn chị Đặng Thị Thanh H.

Về con: Buộc chị Đặng Thị Thanh H giao hai con chung Trương Đông Đ, sinh ngày 15/9/2011 và Trương Văn Hải D, sinh ngày 21/7/2014 cho anh Trương Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 8 năm 2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Đặng Thị Thanh H. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về án phí: Anh Trương Văn C phải chịu án phí DSST 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ trong số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh Trương Văn C đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007080 ngày 11 tháng 05 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/8/2023. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ