- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị R và anh Phan Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 77/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/2/2023 Về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Phi Hùng
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký viên Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT chính thức: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 442/2022/TLST- HNGĐ, ngày 21/11/2022 tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1985. Nơi cư trú: tổ 03, ấp Bình P1, xã Phú B, huyện PT, tỉnh An Giang. (đề nghị vắng mặt)
Bị đơn: Anh Phan Thanh T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: tổ 07, ấp Bình P1, xã Phú B, huyện PT, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải không được chị Nguyễn Thị R trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu nhau và chung sống với nhau từ năm 2000, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn với nhau. Lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, anh T trở nên vô tâm, làm tổn thương tình cảm của vợ chồng, không lo làm ăn và không quan tâm đến gia đình nên chị quyết định xin ly hôn với anh T, từ đó cho đến nay không còn sống chúng với anh T nữa. Nay chị cương quyết yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về quan hệ con chung: quá trình chung sống có 02 người con chung tên Phan Thanh S, sinh ngày 10/10/2001 đã trưởng thành tự lập được không yêu cầu xem xét giải quyết và Phan Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/4/2016 hiện đang sống với chị R, chị R yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 01 người con chung tên Phan Nguyễn Minh T cho đến thành niên hoặc tự lập được và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
- Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ phải thu, phải trả: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Phan Thanh T trình bày: Sau thời gian tìm hiểu nhau và chung sống với nhau từ năm 2000, không có đăng ký kết hôn theo quy định. Chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn với nhau. Lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống. Nay chị R yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: quá trình chung sống có 02 người con chung tên Phan Thanh S, sinh ngày 10/10/2001 đã trưởng thành tự lập được không yêu cầu xem xét giải quyết và Phan Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/4/2016 hiện đang sống với chị R, đồng ý giao cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng nhưng sau này phải cho anh được thăm nom và được quyền thay đổi nuôi con chung theo quy định.
- Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ phải thu, phải trả: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn chị R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự. Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa chị R và anh T không có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân anh chị không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng hợp pháp. Về quan hệ con chung: 02 người con chung tên Phan Thanh S, sinh ngày 10/10/2001 đã trưởng thành tự lập được không yêu cầu xem xét giải quyết và Phan Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/4/2016 hiện đang sống với chị R và anh T cũng đồng ý giao cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng nên ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Ngoài ra không yêu cầu nào khác và nguyên đơn chị R phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
. Về hình thức, thủ tục tố tụng:
. Về quan hệ tranh chấp: chị Nguyễn Thị R có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phan Thanh T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: tổ 07, ấp Bình P1, xã Phú B, huyện PT, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị R.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: chị R và anh T chung sống với nhau thời gian dài nhưng không đăng ký kết hôn quy định là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch”, “Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý ”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...” và điểm c khoản 3 Nghị Quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết nầy, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.....” theo quy định. Như vậy, hôn nhân của anh chị không được pháp luật bảo vệ và tuyên bố không công nhận chị R và anh T là quan hệ vợ chồng.
Về quan hệ con chung: 02 người con chung tên Phan Thanh S, sinh ngày 10/10/2001 đã trưởng thành tự lập được và anh chị thống nhất không yêu cầu xem xét giải quyết. Riêng cháu Phan Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/4/2016 anh T cũng thống nhất giao cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định nên HĐXX ghi nhận sự thảo thuận của anh chị.
Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu phải trả: chị R và anh T thống nhất khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ, chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
. Về án phí DSST: chị Nguyễn Thị R phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị R và anh Phan Thanh T có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 1 Điều 51; Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị R và anh Phan Thanh T.
2. Về quan hệ con chung:
- Giao 01 người con chung tên Phan Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/4/2016 cho chị Nguyễn Thị R tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được.
- Anh Phan Thanh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Chị Nguyễn Thị R trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở mà phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Phan Thanh T đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
- Vì lợi ích của con chung khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu phải trả: anh chị khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
4. Về án phí DSST:
3.1 Chị Nguyễn Thị R phải chịu án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005772, ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.
3.2 Anh Phan Thanh T không phải chịu án phí.
Anh Phan Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng chị Nguyễn Thị R được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Các đương sự; -VKSND huyện PT; -CCTHADS huyện PT; -TAND tỉnh An Giang; -Lưu: hồ sơ vụ án, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thành Thuận |