- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Anh Đỗ Thanh D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/7/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN D
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Ngô Đình Bảo Thiện
2/ Ông Nguyễn Thành Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kim P, sinh năm 1988; địa chỉ: khu phố 4, phường H, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Anh Đỗ Thanh D, sinh năm 1980; địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt chị P; Vắng mặt anh D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30/3/2023, bản khai của nguyên đơn chị Hồ Thị Kim P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Thanh D cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc theo giấy đăng ký kết hôn số 78 ngày 27/6/2008. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện, không ai ép buộc và được gia đình hai bên đồng ý. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh P, yêu thương nhau, cùng nhau làm ăn, chăm lo cho gia đình và nuôi dạy con cái. Nhưng thời gian sau này xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm nhau, mạnh ai nấy sống, có lần anh D đánh chị sưng cả mắt và tay chân trước mặt con cái, làm cho các con bị ảnh hưởng tâm lý. Vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện nhưng vẫn không thể hòa giải được mà càng ngày mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân được một năm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Đỗ Thanh D. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Đỗ Thảo D1, sinh ngày 24/8/2009 và Đỗ Đức D2, sinh ngày 19/7/2014. Hiện nay hai con đang sống cùng chị P. Khi ly hôn, chị xin được quyền trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, do anh Đỗ Thanh D vắng mặt nên chị yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Đỗ Thanh D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn anh Đỗ Thanh D. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố Phú Thành, thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đỗ Thanh D đã được tống đạt các văn bản tố tụng và được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh D tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đỗ Thanh D.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Hồ Thị Kim P và anh Đỗ Thanh D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc theo giấy đăng ký kết hôn số 78 ngày 27/6/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Kim P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo chị P trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không hợp quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm nhau, mạnh ai nấy sống, có lần anh D đánh chị sưng cả mắt và tay chân trước mặt con cái, làm cho các con bị ảnh hưởng tâm lý. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn và cho anh D cơ hội sửa chữa nhưng vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi. Vợ chồng mâu thuẫn càng ngày trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng không còn sống chung với nhau một năm nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của chị là yêu cầu xin được ly hôn với anh Đỗ Thanh D.
Xét mâu thuẫn của chị P và anh D đã trầm trọng, thể hiện qua việc khi Tòa án thông báo về yêu cầu ly hôn của chị P thì anh D không có ý kiến hay tác động gì để hàn gắn gia đình mà bỏ mặc; khi tòa án tổ chức hòa giải đoàn tụ thì anh D vắng mặt không tham dự hòa giải. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh P và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Kim P và anh Đỗ Thanh D thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống chung. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Kim P.
- Về con chung: Chị Hồ Thị Kim P và anh Đỗ Thanh D có hai con chung tên Đỗ Thảo D1, sinh ngày 24/8/2009 và Đỗ Đức D2, sinh ngày 19/7/2014. Hiện nay hai con đang sống cùng chị P. Khi ly hôn, chị xin được quyền trực tiếp nuôi hai con.
Xét yêu cầu về nuôi con của chị P, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ ngày chị P và anh D sống ly thân, chị P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu D1 và D2. Tại bản khai ngày 12/4/2023, cháu D1 và cháu D2 có nguyện vọng khi ba mẹ ly hôn, hai cháu muốn sống chung với mẹ. Do đó, để không làm thay đổi môi trường sống của hai cháu D1 và cháu D2 nên giao hai con chung tên Đỗ Thảo D1, Đỗ Đức D2 cho chị P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [4] Về án phí: Chị Hồ Thị Kim P phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Đỗ Thanh D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 146, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Kim P. Chị Hồ Thị Kim P được ly hôn với anh Đỗ Thanh D. 2. Về con chung: Giao hai con chung tên Đỗ Thảo D1, sinh ngày 24/8/2009 và Đỗ Đức D2, sinh ngày 19/7/2014 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Chị P không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Anh Đỗ Thanh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. 4. Về án phí: Chị Hồ Thị Kim P phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị P đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014513 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.
Anh Đỗ Thanh D không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/7/2023). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc; - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc; - UBND thị trấn Phú Long, H.Hàm Thuận Bắc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Thị Kim Hoa |