vanban.org

Bản án 77/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mộng C được ly hôn với anh Châu Văn T. Về con chung: Giao người con Châu Nhã U, sinh ngày 19/5/2017 và Châu Nhã L, sinh ngày 04/01/2019 cho chị Nguyễn Thị Mộng C tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Châu Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Mộng C yêu cầu ly hôn với anh Châu Văn T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-5-2023
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Kim Phụng, ông Lê Văn Lil.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng C, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp AĐ, xã LĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Châu Văn T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp B1, xã LĐĐ, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

(chị C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/02/2023, trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị Mộng C trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh T chung sống năm 2017 trong thời gian lao động tại Hàn Quốc, hôn nhân tự nguyện, có đến Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc đăng ký kết hôn ngày 27/4/2017 theo quy định của pháp luật.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 02 con chung. Tuy nhiên, trong thời gian làm việc tại Hàn Quốc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị về Việt Nam sinh sống từ năm 2019, còn anh T về Việt Nam từ ngày 05/01/2023 (có xác nhận tại Công văn số 45/QLXNC ngày 28/4/2023 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Bạc Liêu), khi về nước, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người một suy nghĩ, cách sống khác nhau. Vợ chồng cũng đã nhiều lần hòa giải để tiếp tục chung sống nhưng không thành. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con: Chị và anh T có 02 người con chung là Châu Nhã U, sinh ngày 19/5/2017 và Châu Nhã L, sinh ngày 04/01/2019 đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Châu Văn T vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Năm 2017, chị C và anh T tự nguyện yêu thương, chung sống và có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị C và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị C và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị C được ly hôn với anh T là phù hợp.

Về con: Người con Châu Nhã U, sinh ngày 19/5/2017 và Châu Nhã L, sinh ngày 04/01/2019 hiện nay đang sống cùng với chị C, để ổn định cuộc sống cần tiếp tục giao con cho chị C nuôi là phù hợp.

Chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản: Chị C không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mộng C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Châu Văn T, anh T có địa chỉ cư trú tại ấp Bửu 1, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh T.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Năm 2017, chị C và anh T tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị C và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị C xác định mâu thuẫn giữa chị và anh T đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau Ca sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị C và anh T không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị C và anh T đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị C được ly hôn với anh T là phù hợp.

. Về con: Xét thấy người con Châu Nhã U, sinh ngày 19/5/2017 và Châu Nhã L, sinh ngày 04/01/2019 đang sống cùng với chị C, để ổn định cuộc sống của con, cần tiếp tục giao cho chị C nuôi là phù hợp. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

. Về tài sản và nợ: Chị C không yêu cầu nên không xem xét.

. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị C nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mộng C được ly hôn với anh Châu Văn T.

2. Về con chung: Giao người con Châu Nhã U, sinh ngày 19/5/2017 và Châu Nhã L, sinh ngày 04/01/2019 cho chị Nguyễn Thị Mộng C tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Châu Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị Nguyễn Thị Mộng C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

3. Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Mộng C không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng C nộp 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Mộng C đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009894 vào ngày 13/02/2023 tại C cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, chị Nguyễn Thị Mộng C, anh Châu Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ