vanban.org

Bản án 77/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thủy T về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Minh P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thủy T được ly hôn với ông Nguyễn Minh P. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thuỷ T "Ly hôn" Nguyễn Minh P"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thủy T về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 7 - 2023
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung giữa bà T và ông P

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Song Tiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Bé

Ông Đinh Ngọc Dình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 139/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thủy T, sinh năm 1981 (có mặt);

Địa chỉ: A, đường L, Khóm A, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Tạm trú: Số nhà D, Khu dân cư, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà C, Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2023 và quá trình xét xử, nguyên đơn bà Hoàng Thủy T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Minh P chung sống và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An, chung sống hạnh phúc khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, ông P thường xuyên uống rượu, không lo lao động phát triển kinh tế gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể kéo dài hôn nhân nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh P. Bà T xác định: Nghề nghiệp của bà là mua bán, thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Trong quá trình chung sống giữa bà và ông Nguyễn Minh P có hai người con chung tên là Nguyễn Hoàng Xuân V, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2004, đã trưởng thành có khả năng lao động nuôi sống bản thân và Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010, hiện tại do bà đang nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được quyền trực tiếp nuôi con chung có tên Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010. Bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng thời, bà T xác định: Giữa bà và ông P không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 27 tháng 7 năm 2023, người con chung có tên Nguyễn Minh P1 xác định: Khi cha mẹ cháu là bà Hoàng Thủy T và ông Nguyễn Minh P ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống cùng với mẹ cháu là bà Hoàng Thủy T.

Quá trình tố tụng, ông Nguyễn Minh P vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà H Thủy Tiên nơi cư trú của ông Nguyễn Minh P, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Minh P đến tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhiều lần nhưng ông Nguyễn Minh P vắng mặt không rõ lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Minh P.

Bà Hoàng Thủy T và ông Nguyễn Minh P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2003 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa bà Hoàng Thủy T và ông Nguyễn Minh P nhưng ông P vắng mặt. Việc ông P vắng mặt thể hiện ông P không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Bà T xác định bà không còn tình cảm với ông P, bà T giữ nguyên nguyện vọng yêu cầu ly hôn với ông P. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông P đã trầm trọng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Hoàng Thủy T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Minh P là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hôn nhân giữa bà Hoàng Thủy T và ông Nguyễn Minh P có hai người con chung tên là Nguyễn Hoàng Xuân V, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2004, đã trưởng thành có khả năng lao động nuôi sống bản thân và Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung có tên Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010 là phù hợp với nguyện vọng của người con chung nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao cho bà T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung có tên là Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010. Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

Ông Nguyễn Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom người con chung có tên là Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010; Vì lợi ích của người con chung, bà T, ông P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; bà T, ông P có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định chung của pháp luật.

Về nợ chung và tài sản chung: Bà Hoàng Thủy T xác định không có nợ chung và cam kết không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Nguyễn Minh P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Hoàng Thủy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thủy T về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Minh P.

1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thủy T được ly hôn với ông Nguyễn Minh P.

2. Về con chung:

Bà Hoàng Thủy T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung có tên là Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010, hiện bà T đang nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom người con chung có tên là Nguyễn Minh P1, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2010, bà T cùng các thành viên của gia đình không ai được cản trở. Ông P thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của người con chung, khi có căn cứ thì bà T, ông P hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; khi có lý do chính đáng thì bà T, ông P có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Bà Hoàng Thủy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006835 ngày 12 tháng 5 năm 2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An được trừ án phí sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm. Riêng ông Nguyễn Minh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ