- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành Thái D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành Thái D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 77/2022/HSST Ngày: 26 - 8 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh S
Bà Hồ Thị Xuân Thiều
- Thư ký phiên toà: Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chiều – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2022/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXX - HS ngày 03/8/2022 đối với bị cáo:
LÊ THÀNH THÁI D, sinh năm 1994, tại Bình Phước; Tên gọi khác Ty; HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khu phố 5, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Khánh T(đã chết) và bà Lê Thị Ngọc H(đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/4/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Anh Lê Thanh S, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ 5, ấp 4, xã M, huyện C1, tỉnh Bình Phước (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 17/01/2022, anh Lê Thanh S, sinh năm 1983; trú tại: ấp 4, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 61D1-186.83 đến uống cà phê tại quán “Đồng Quê 339”, địa chỉ: ấp 2, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Khi đến quán anh S dựng xe mô tô biển số 61D1-186.83 trước cửa chòi và để túi xách bằng vải màu đen bên trong có số tiền 33.500.000 đồng (ba mươi ba triệu năm trăm ngàn đồng) và một số giấy tờ gồm: hợp đồng thuê đất, giấy đăng ký doanh nghiệp, mộc dấu Công ty TNHH XD TM DV Không gian đẹp Bình Phước trên baga xe mô tô rồi vào chòi lá dừa bên trái của quán gọi nước uống rồi ngủ trong chòi. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Lê Thành Thái D điều khiển xe mô tô biển số 93P1-257.77, màu xanh bạc đen đến uống nước tại quán “Đồng Quê 339” và dựng xe mô tô biển số 93P1-257.77 gần xe mô tô biển số 61D1-186.83 của anh S. D vào chòi lá dừa bên phải của quán và gọi nước uống. Khoảng 10 phút sau, D đi vệ sinh tại nhà vệ sinh và quay lại chòi, D phát hiện túi xách bằng vải màu đen để trên baga xe mô tô biển số 61D1-186.83 của anh S nhưng không có người trông coi, quản lý. Lúc này, D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh S. D trộm cắp túi xách màu đen của anh D, bỏ vào cốp xe mô tô biển số 93P1-257.77 rồi điều khiển xe về nhà tại khu phố 5, thị trấn Chơn Thành. Khoảng 21 giờ cùng ngày, D về đếm số tiền trộm cắp được trong túi xách là 33.500.000 đồng cùng một số giấy tờ của anh S. D cất tiền vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô biển số 93P1-257.77 đến cầu Tham Rớt, địa chỉ: Ấp 1, xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình D để ném túi xách và một số giấy tờ của anh S xuống nước. Số tiền 33.500.000 đồng D lấy trộm của anh S, ngày 04/02/2022 D đã sử dụng đánh bạc (đá gà ăn tiền) và thua hết.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/3/2022, D điều khiển xe mô tô biển số 93P1-257.77 đến quán “Đồng Quê 339” để uống nước thì quản lý quán cà phê là anh Vũ Thanh Tùng, sinh năm 1993, địa chỉ: ấp 2, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước nghi ngờ D là người đã trộm túi xách của anh S vào ngày 17/01/2022, anh Tùng gọi điện cho người quen là Mai Lâm Huy, sinh năm 1986, nơi thường trú: Khu phố Phú Xuân, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đến phụ anh Tùng giữ và dẫn giải D đến cơ quan công an, đồng thời điện thoại báo với anh S để đến Công an huyện Chơn Thành để trình báo sự việc bị mất trộm tài sản nêu trên vào ngày 17/01/2022.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với số tiền 35.500.000 đồng, bị cáo đã sử dụng để đánh bạc (đá gà thắng thua bằng tiền) tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình D và thua hết, không thu hồi được.
- 01 (một) túi xách bằng vải màu đen, hợp đồng thuê đất, hợp đồng thuê đất, giấy đăng ký doanh nghiệp, mộc dấu Công ty TNHH XD TM DV Không gian đẹp Bình Phước. Sau khi chiếm đoạt, bị cáo đã ném xuống kênh nước tại cầu Tham Rớt, địa chỉ: Ấp 1, xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình D không thu hồi được.
- Tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future Fi, biển số 93P1-257.77, màu S xanh-bạc-đen, số máy: JC54E-0002204, số khung: JC5313CY000951 là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25/6/2022, bị cáo đã tự nguyện trả cho anh Lê Thanh S số tiền 33.500.000 đồng. Đối với túi xách bằng vải màu đen bên trong có hợp đồng thuê đất, hợp đồng thuê đất, giấy đăng ký doanh nghiệp, mộc dấu Công ty TNHH XD TM DV Không gian đẹp Bình Phước, anh S đã tự đi làm lại. Anh S không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số:70/CT-VKS ngày 14/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thành Thái D mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố, bị cáo đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo D khai: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 17/01/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Honda, số loại Future Fi màu xanh bạc, biển số 93P1 -257.77 đến uống cà phê tại quán “Đồng Quê 339”, địa chỉ: ấp 2, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước; D vào chòi lá trong quán gọi nước uống, khoảng 10 phút sau D đi vệ sinh và quay lại chòi, D phát hiện trên baga chiếc xe mô tô đậu bên cạnh xe mô tô của D (xe mô tô hiệu Honda – Wave RSX, biển số. 61D1 – 186.83 của anh Lê Thanh S, sinh năm 1983; trú tại ấp 4, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) có để chiếc túi màu đen nên D nãy sinh ý định trộm cắp tài sản; sau khi quan sát xung quanh thấy không có ai nên D đã lấy trộm túi xách và bỏ vào cốp xe của D rồi điều khiển xe về nhà tại khu phố 5, thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, khi về nhà D kiểm tra túi xách có số tiền 33.500.000 đồng và một số giấy tờ nhưng D không xem nên không biết là những giấy tờ gì. Sau đó D cất giữ số tiền và điều khiển xe mô tô biển số 93P1 -257.77 đến khu vực cầu Tham Rớt thuộc ấp 1, xã Trừ Văn Thố, huyện Bà Bàng, tỉnh Bình D ném túi xách và giấy tờ xuống kênh nước. Số tiền 33.500.000 đồng D lấy trộm của anh S thì D đã sử dụng để đánh bạc và thua hết. Ngày 07/3/2022 D tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 93P1 -257.77 đến uống cà phê tại quán “Đồng Quê 339”, địa chỉ: ấp 2, xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước thì bị quản lý quán là anh Vũ Thanh Tùng phát hiện nghi ngờ bị cáo lấy trộm túi xách của anh S vào ngày 17/01/2022 nên tạm giữ để dẫn giải đến cơ quan công an xử lý và gọi điện thoại thông báo cho anh S đến cơ quan công an trình báo sự việc bị mất tài sản nêu trên. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tôi của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; số tiền bị cáo lén lút chiếm đoạt của anh S là 33.500.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng số:70/CT-VKS ngày 14/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi; Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa bồi thường cho người bị hại; Bị cáo có nhân thân tốt; ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Từ những nhận định tại mục [3], [4] và [5]. Xét thấy bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt; mức phạt của bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm về tội ít nghiêm trọng và có khả năng tự cải tạo không gây nguy hiểm nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành công dân tốt. Đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, do bị cáo làm công nhân với mức thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã trả cho anh S số tiền 33.500.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt và anh S không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, số loại Future Fi màu xanh bạc, biển số 93P1- 257.77 Cơ quan Điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 33/QĐ ngày 26/6/2022 trả lại cho bà Lê Thị Thuý Hằng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 260, Điều 326, Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành Thái D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Lê Thành Thái D 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2022).
Giao bị cáo Lê Thành Thái D cho Ủy ban nhân dân thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lê Thành Thái D thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 để giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thành Thái D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Bình Phước
- VKSND huyện Chơn Thành;
- CCTHADS huyện Chơn Thành;
- CA huyện Chơn Thành;
- UBND nơi cư trú của bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu.
Trần Quốc Mạnh
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Thành – Phạm Xuân Đính
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKSND huyện Chơn Thành; - CCTHADS huyện Chơn Thành; - CA huyện Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Thành – Phạm Xuân Đính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thanh Thảo THẨM PHÁN Bùi Thanh Thảo |