- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội“Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ ––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2022/HS-ST Ngày 20 tháng 12 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xétxử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Văn Toàn
Các Hội Thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Thắng
Bà Bùi Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Thành L - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm:Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần:Ông Nguyễn Đức Hưởng- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11năm 2022 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ, theo Quyết địnhđưa vụ án ra xét xử số: 174/2022/QĐXXST-HS ngày 22tháng 11 năm 2022 đốivới bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T- sinh năm 1992; Giới tính: Nam;Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh;Học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Số CMND: 132049130, do CA tỉnh Phú Thọ cấp ngày 28/11/2018; Nơi ĐKHKTT: Khu 6, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ;Bố đẻ: Nguyễn Văn T - đã chết; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị N - sinh năm 1969, hiện ở xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ;Vợ: Đinh Thị D - sinh năm 1995; Lao động tự do;Con: Có 01 con, sinh năm 2015;Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là thứ hai;Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án:
+ Bản án hình sự số 124/2016/HSST ngày 27/6/2016 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Nguyễn Văn T33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Thắng thi hành xong phần dân sự tháng 8/2016. Ra trại tháng 4/2018.
+ Bản án hình sự số22/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt Thắng 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; thi hành xong án phí ngày 23/7/2019; Ra trại ngày 28/3/2021.
Bị cáo bị bắttạm giam từ ngày 05/9/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Phú Thọ.Có mặt.
Bị hại: Ông Dương Đức B, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Hà Văn T, sinh năm 1993;
2. Anh Hà T A, sinh năm 2001;
3. Anh Cao Đức Q, sinh năm 1993;
4. Anh Cao Thành L, sinh năm 1998;
5. Anh Hà Văn H, sinh năm 1996;
Đều có địa chỉ: Khu Đ 4, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
6. Anh Hán Quốc C, sinh năm 2002; địa chỉ: Khu Đ 3, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
7. Anh Lê Hồng S, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu 2, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
8. Anh Lê Anh V, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu 1, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
9. Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
10. Anh Trần Quốc H, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
11. Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn Gò Đình, xã L, huyện S, tỉnh Q.
(Những người làm chứng đều vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định và cần tiền tiêu xài cá nhân, các đối tượng, gồm:Hà Văn T- sinh năm 1993; Cao Đức Q- sinh năm 1993; Hà T A- sinh ngày 06/6/2001; Hà Văn H- sinh năm 1996; Cao Thành L- sinh năm 1998, đều ở khu Đ 4, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Hán Quốc C- sinh ngày 24/6/2002 đều ở khu Đ 3,xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Lê Hồng S- sinh năm 1999, ở khu 2 và Nguyễn Văn T- sinh năm 1992, ở khu 6, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ vàNguyễn Anh T-sinh năm 2001,ở xã L, huyện S, tỉnh T, thường xuyên tụ tập ở Công ty Đại Nam và trạm dừng nghỉ Ngọc Anh đều cóđịa chỉ tại: xã P, thị xã P làm địa điểm tập trung để ăn uống, bàn bạc và rủ nhau đi trộm cắp T sản là cây cảnh của người dân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, chủ yếu là cây mộc hương. Các bị cáođiều khiển xe mô tôtrên các địa bàn huyện, thị trong tỉnh Phú Thọ tìm cây cảnh có giá trị để trộm cắp, sau khi xác định được vị trí cây, các đối tượng tính toán dùng tay nhổ, hoặcchuẩn bị các công cụ mang theo đểđào bới và vận chuyển nếu cây to vàđược trồng kiên cố, rồi chờ đến thời điểmnửa đêm đến rạng sáng ngày hôm sau(khoảng từ0h-2h sáng), lúc này vắng người qua lại và chủnhàđã ngủđể thực hiện hành vi trộm cắp T sản được dễ dàng.
Bằng phương thức thủđoạn trên trong khoảng thời gian tháng 5 và tháng 6 năm 2021, các bị can đãthực hiện 11 vụ trộm cắp T sản, trong đó có 10 vụ trộm cắp cây mộc hương, 01 vụ trộm cắp cây tùng la hán; với tổng giá trị T sản bị chiếm đoạt là 80.100.000đ (Tám mươi triệu một trăm nghìn đồng). Riêng Nguyễn Văn T chỉ tham gia 01 vụ trộm cắp cây mộc hương, cụ thể như sau:
Khoảng 00 giờ 30phút ngày 01/6/2021, Hán Quốc C, Hà Văn T, Cao Đức Q, Cao Thành L, Hà Văn H, Lê Hồng S, Hà T A, Nguyễn Văn T và Nguyễn Anh T tụ tập uống bia tại bãi đất trống gần khu công nghiệp Phú Hà thuộc xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ.Sau đó Hà Văn T khởi xướng, rủ cả bọn đi trộm cắp cây mộc hương, tất cảđồng ý. Trước đó, T đã phát hiện thấy cây mộc hương của gia đình ông Dương Đức B- sinh năm 1975 ở khu 2, xã C, huyện Đ được trồng phía trước cửa nhà nên cả nhóm thống nhất sẽ trộm cắp cây này. Sau khi uống bia xong tất cả về công ty TNHH thương mại dịch vụĐại Nam (công ty Đại Nam). Tại đây T bảo C chuẩn bị kìm cộng lực, T cầm một kiếm tự chế, L cầm một dao, T cầm một xiên nướng thịt bằng kim loại rồi cả nhóm đi trên 04 xe mô tô theo Quốc lộ 2 đến trước cửa nhàông Dương Đức B, trong đó: S điều khiển xe mô tô mượn của Nguyễn Hồng Mạnh- sinh năm 2000, ở khu Đ 2, xã Đ, huyện T chở C và T (không nhớ BKS); Q điều khiển xe mô tô Wave màu trắng, BKS 19C1-238.63 của Q chở T Anh; L điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen BKS 19U1-3136 chở Thắng (L mượn của mẹ L là bà Nguyễn Thị Thu Hằng- sinh năm 1975, ở khu Đ 4, xã Đ, huyện T); H điều khiển xe mô tô Wave mượn của Lương (không nhớ BKS) chở T.Khi đến nơi, cả nhóm dừng lại quan sát xác định nhàông B đã khoá cửa đi ngủ, trước cửa nhàông B có trồng một cây mộc hương cao 3,75m, chu vi gốc cây khoảng 0,33m, thoát thân 0,4m. T Anh dùng kìm cộng lực cắt khoá dây xích đang khoá gốc cây với cột nhà, T cầm dao tự chế cắt dây thừng quấn quanh bầu cây, C và S cạy gạch, đá xếp xung quanh gốc cây rồi dùng dao, kiếm mang theo đào đất xung quanh gốc cây. Lúc này T, Thắng, L, H và Q đứng ven đường để cảnh giới. Sau khoảng 15 phút không nhổđược cây, T và C nói với cả nhóm phải đi tìm cuốc, xẻng mới đào được, sau đó tất cảđi theo hướng QL2 vềĐ. S điều khiển xe chở T và Cđi được khoảng 300-400m thì C phát hiện một chiếc cuốc của gia đình bà Lê Thị Nhâm- sinh năm 1957 (ở cùng khu với ông B), trị giá 50.000đ; nên S dừng xe cho C lấy cuốcrồi quay lại nhàông B để tiếp tục trộm cắp cây mộc hương;các đối tượng còn lạiđi chậm phía sau để quan sát, cảnh giới. Khi T, C, S quay lại thì ông B cùng người dân phát hiện hô hoán, dùng xe máy truy đuổi. Thấy bị phát hiện nên C, T và S bỏ chạy về hướng thị xã Phú Thọ, chạy được khoảng 400-500m thì C vứt bỏcuốc trên đường. Nhóm còn lại gồm: T Anh,T, Thắng, L, H và Q cũng quay lại nhưng không thấy C, T, S đâu và thấy người dân đứng ở khu vực nhà ông B, sợ bị phát hiện nên cũng bỏ chạy.Khi nhóm của T Anhđi đến đường rẽ vào xã Minh Phú, huyện Đ thì tất cả dừng lại, H bảo Q một mình điều khiển xe mô tô Wave BKS 19C1-238.63 quay lại gần địa điểm nhàông B để nghe ngóng tình hình thì Q bịông B cùng người dân phát hiện bắt giữ và báo Cơ quan công an để giải quyết.
Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đ đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng có liên quan; tiến hành trưng cầu định giá T sản bị trộm cắp. Ngày 02/6/2021 Hội đồng định giá T sản huyện Đ có kết luận về việc định giá T sản số 37/KL-HĐ kết luận cây mộc hương của gia đình ông B trị giá40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng). Cơ quan điều tra đã tạm giao cho ông B quản lý cây mộc hương nêu trên.
Ngày 09/6/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đđã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hà Văn T, Nguyễn Anh T, Hán Quốc C, Hà T A, Lê Hồng S; Cao Đức Q, Hà Văn H về tội Trộm cắp T sản, sau đó chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Phú Thọ để điều tra. Ngày 04/10/2021, Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Phú Thọ đã khởi tố bị can Cao Thành L và Nguyễn Văn Tvề tội Trộm cắp T sản.
Ngày 05/9/2022, Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đưa vụ án ra xét xửvà tuyên bố các bị cáo:Hà Văn T, Nguyễn Anh T, Hán Quốc C, Hà T A, Lê Hồng S; Cao Đức Q, Cao Thành L, Hà Văn H phạm tội “Trộm cắp T sản” theo Điều 173 BLHS.
Đối với Nguyễn Văn T đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Phú Thọ truy nã.
Ngày 05/9/2022, Thắng bị Phòng Cảnh sát hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ bắt khi đang lẩn trốn tại phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T thừa nhận đã cùng đồng phạm trộm cắp cây mộc hương nhà ông B nhưng chưa lấy được.
Cáo trạng số52/CT-VKSPT-P2 ngày 08/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp T sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêuvà đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểmgkhoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1Điều 51,Điều 57, Điều 38Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ttừ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Thiệt hại trong vụ án chưa xảy ra nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Đã xử lý trong vụ án trước đó nên không đặt ra yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và không có tranh luận gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Vụ án đủ điều kiện đưa ra xét xử trực tuyến theo quy định tại Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến và Quyết định số: 512/QĐ-TANDTC ngày 19/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định đưa vụ án ra xét xử trực tuyến công khai theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại và những người làm chứng nhưng bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những người này, do vậy Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
Về chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cùng các T liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/6/2021, Nguyễn Văn T cùng Hán Quốc C, Hà Văn T, Cao Đức Q, Cao Thành L, Hà Văn H, Lê Hồng S, Hà T A và Nguyễn Anh T trộm cắp của gia đình ông Dương Đức B- sinh năm 1975, ở khu 2, xã C, huyện Đ một cây mộc hương cao 3,75m, chu vi gốc cây khoảng 0,33m, thoát thân 0,4m, trị giá 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), nhưng chưa lấy được thì bị gia đình ôngDương Đức B phát hiện.
Trước đó, bị cáo Thắng có 02 lần bị Toà án đưa ra xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuýchưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp T sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt như Viện kiểm sát truy tố là đúng pháp luật.
Về tính chất vụ án: Hành vi của Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về T sản của ông B, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:Bị cáo Nguyễn Văn T là đồng phạm với Hà Văn T và các đối tượng khácvới vai tròngười giúp sức (cảnh giới cho nhóm của T thực hiện hành vi phạm tội); nên vai trò của Thắng nhẹ hơn các đối tượng khác.Quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương gây cản trở cho việc điều tra vụ án. Vì vậy,xét về tính chất,nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do bị cáo phạm tội chưa đạt nên Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo ¾ mức án từ 36 tháng đến 45 tháng tùtheoĐiều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo sống phụ thuộc gia đình, không có T sản gì ngoài đồ dùng thiết yếu nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự: Thiệt hại trong vụ án chưa xảy ra nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Đã xử lý trong vụ án trước đó nên không đặt ra yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội“Trộm cắp tài sản”.
[2]Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/9/2022.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3]Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4]Về quyền kháng cáo:Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo, bị hại vắng mặtcó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Phòng PC01 - CA tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ; - Trại Tạm giam CA tỉnh Phú Thọ; - Bị hại; bị cáo; - Lưu: HS, AV. | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Toàn |