vanban.org

Bản án 77/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 01/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Trần Tấn H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày 11/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Trần Tấn Huân - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HS-ST
Ngày: 01/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Điệp.

2. Bà Nguyễn Minh Phƣơng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Lam Điền - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 444/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

Trần Tấn H; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 05/7/1982; Nơi sinh: Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Hương lộ, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1932 (sống) và bà Trần Thị X, sinh năm 1940 (sống); Anh, chị, em ruột: 10 người; Vợ con: chưa có.

- Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/12/2021, có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1991. Địa chỉ: đường Trần Phú, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.(có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1989. Địa chỉ: Trương Định, phường An Cư, quận ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.(vắng mặt)

2. Bà Phạm C C, sinh năm 1983. Địa chỉ: Mạc Đỉnh Chi, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.(có mặt)

3. Ông Lê Nguyễn Đức H (Y), sinh năm 1988. Địa chỉ: Bùi Thị Xuân, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2021, Trần Tấn H quen biết với Nguyễn Hoàng K qua ứng dụng “Blue” (dành cho người đồng tính). Sau đó K sử dụng Zalo với nick tên “Nguyen Hoang K”, H thì sử dụng Zalo với nick tên “Jin Ku” nhắn tin với nhau. H tự giới thiệu mình là Việt Kiều Canada về Cần Thơ và đang ở tại nhà nghỉ Adora số 6/28 đường Lê Lai, phường An Phú, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Qua tìm hiểu được biết anh K có nhu cầu muốn đi Canada để sinh sống nên H bắt đầu nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh K. Để anh K tin tưởng H có khả năng lo được thủ tục cho anh K xuất cảnh đi du lịch bằng cách làm thủ tục đăng ký kết hôn với H để được định cư tại Canada thì anh K phải gửi các loại giấy tờ tùy thân gồm sơ yếu lý lịch và bằng cấp cho H.

Ngày 24/10/2021, H yêu cầu anh K chuyển 34.105.000 đồng vào tài khoản số 00004701528 của H, mở tại ngân hàng Seabank để làm bằng chăm sóc sắc đẹp phụ nữ và phí thuê Luật sư cho anh K. Khi đã nhận được tiền H tiêu xài hết số tiền không làm gì cho anh K. Đến ngày 03/11/2021, H lại tiếp tục yêu cầu anh K cHển thêm 11.000.0000 đồng vào tài khoản số 0071002159829 của H mở tại ngân hàng Vietcombank (tiền làm bằng Spa cho Trường phí làm bằng Visa cho K). H tự viện ra lý do là cần thêm người giúp việc nhà bên Canada nên anh K đã làm hồ sơ cho người bạn tên Nguyễn Minh Trường. Để lo được việc này H yêu cầu anh K đưa thêm tiền nên K trực tiếp đưa cho H 550 USD tương đương số tiền 23.550.000 đồng vào ngày 03/11/2021 nhưng H vẫn chưa làm xong thủ tục như H đã hứa hẹn trước đó. Đến ngày 04/12/2021, H lại tiếp tục yêu cầu anh K cHển thêm 69.900.000 đồng vào tài khoản số 0071002159829 của H mở tại ngân hàng Vietcombank với lý do là để cho H chuyển đổi thông tin từ Nguyễn Minh Trường (bạn của K) qua Nguyễn Thị Kim Ngân (em của anh K), do trước đó anh K có nhờ H làm thủ tục cho Trường đi sau đó Trường không đi nên Ngân có nhu cầu đi nên cHển qua cho Ngân, H hứa với anh K đến tháng 12/2021 sẽ được đi Canada, thực tế H không có khả năng làm hồ sơ mà chỉ hứa hẹn để tạo lòng tin cho anh K nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền để tiêu xài cá nhân. Sau nhiều lần chuyển khoản biết mình bị H lừa chiếm đoạt tổng số tiền là: 138.555.000 đồng nên K đến cơ quan Công an trình báo sự việc.

Ngày 09/12/2021, Công an quận Ninh Kiều đã mời H về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận đã chiếm đoạt của anh K với tổng số tiền là 138.555.000 đồng. Ngoài số tiền chiếm đoạt trên, H còn thừa nhận đã nhiều lần (14 lần) mượn tiền của anh K bằng hình thức đưa tiền trực tiếp và cHển khoản vào các tài khoản số 0071002159828 mở tại ngân hàng Vietcombank và số tài khoản 00004701528 mở tại ngân hàng Seabank đều mang tên Trần Tấn H với tổng số tiền là 479.878.000 đồng, trong đó bị can H đã dùng 106.400.000 đồng chi tiêu cho K và bạn bè của K.

Qua làm việc bị hại anh Nguyễn Hoàng K đã cung cấp được các giấy tờ liên quan đến việc chuyển tiền, nội dung các tin nhắn Zalo thể hiện việc anh K và H có nhắn tin trao đổi qua lại liên quan đến các lần chuyển tiền (04 lần) và thể hiện việc H hứa hẹn lo thủ tục cho anh K sang Canada. Tổng cộng đã cHển cho H 03 lần cHển khoản và 01 lần đưa trực tiếp là 138.555.000 đồng. Ngoài các lần chuyển tiền trên anh K nhiều lần (14 lần) chuyển khoản cho H mượn với tổng số tiền là 485.378.000 đồng.

Đối với những người có liên quan: Phạm C C và Lê Nguyễn Đức H đi cùng anh K vào ngày 09/12/2021, H khai những người này có hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự của H, đồng thời dùng thủ đoạn ép buộc H phải đưa cho anh K 10.000.000 đồng. Qua xác minh, làm việc với những người này không có việc đe dọa, xúc phạm ép buộc H đưa tiền trả cho K nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản đối với Phạm C C và Lê Nguyễn Đức H; việc H tự nguyện đưa 10.000.000 đồng cho Phạm C C và Lê Nguyễn Đức H nhưng họ đã đưa lại tiền và anh K đồng ý cấn trừ vào số tiền H đã mượn nợ.

Các vật chứng thu giữ của Trân Tấn H gồm: 01 xe mô tô hiệu Yamaha MT15, màu xanh xám, biển số 65B2-664.86; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-664.86 chủ xe Nguyễn Hữu B, sinh năm 1989, địa chỉ: 88/7, Trương Định, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; 01 hợp đồng mua bán xe máy (bản chính); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51, màu đen; 01 nhẫn đeo tay vàng 75%, trọng lượng 1,350 chỉ; 01 dây chuyền vàng 41,7%, trọng lượng 1,214 chỉ; 01 dây chuyền tuổi vàng 68% trọng lượng 1,224 chỉ. Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ các tài sản trên của bị can H. Các tài sản này bị cáo đồng ý tự nguyện khắc phục cấn trừ với số tiền đã mượn nợ của anh K.

Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng MB; 01 thẻ ATM ngân hàng Seabank và 01 thẻ ngân hàng Vietcombank đều mang tên Trần Tấn H. Đây là các vật chứng H sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, cHển các vật chứng trên sang Tòa xử lý;

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Hoàng K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt là 138.555.000 đồng và trả nợ số tiền 485.378.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 73/CT-VKSNK ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Trần Tấn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Tấn H từ 04năm đến 05 năm tù;

Về xử lý tang vật, vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 của bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử lý theo quy định pháp luật như sau: Đối với số tiền vay mượn không đề cặp do bị cáo và bị hại tự thỏa thuận tại phiên tòa. Đối với các tài sản tạm giữ là gồm có:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha MT15, màu xanh xám, biển số 65B2-664.86; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-664.86 chủ xe Nguyễn Hữu B; 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy (bản chính); 01 (một) nhẫn đeo tay vàng 75%, trọng lượng 1,350 chỉ; 01 (một) dây chuyền vàng 41,7% trọng lượng 1,214 chỉ; 01 (một) dây chuyền vàng 75% trọng lượng 1,862 chỉ; 01 (một) dây chuyền tuổi vàng 68% trọng lượng 1,224 chỉ, trả lại cho bị hại theo thời giá trả trừ cấn buộc bị cáo trả lại số tiền sau khi trừ cấn;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51, màu đen, tịch thu sung công vì đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội;

- Đối với 01 (một) thẻ ATM ngân hàng MB; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Seabank và 01 thẻ ngân hàng Vietcombank đều mang tên Trần Tấn H tịch thu tiêu hủy, vì đây là các vật chứng bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đồng ý cấn trừ số vàng và xe mô tô hiệu Yamaha MT15, màu xanh xám, biển số 65B2-664.86 để trả lại số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại.

Bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, đối với trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 138.555.000 đồng và trả lại cho bị hại số tiền 485.378.000 đồng mà bị cáo đã mượn của bị hại.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa; xin được giảm nhẹ hình phạt trong lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ninh Kiều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Bị cáo đã có hành vi như sau:

- Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: từ thời gian cuối tháng 10 đến đầu tháng 12/2021 bị cáo đã có ý định chiếm đoạt tài sản khi gặp người bị hại Nguyễn Hoàng K nên đã thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tổng tài sản có giá trị là 138.555.000 đồng.

- Về nhân thân: Xét bị cáo H là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tính tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, phá vỡ lòng tin giữa con người với nhau, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, tác động xấu đến trật tự trị an xã hội. Hội đồng xét xử, thiết nghĩ cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo như đã phân tích phần trên là phù hợp.

Đối với những người có liên quan: Phạm C C và Lê Nguyễn Đức H. Qua xác minh, chưa đủ căn cứ xử lý hình sự về tội Cưỡng đoạt tài sản.

Về trách nhiệm Dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự cần buộc bị cáo phải trả lại cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 138.555.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51, màu đen (đã qua sử dụng), vì đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ ATM ngân hàng MB; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Seabank và 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank đều mang tên Trần Tấn H, vì đây là vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha MT15, màu xanh xám, biển số 65B2-664.86 (đã qua sử dụng), 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-664.86 chủ xe Nguyễn Hữu B, sinh năm 1989, địa chỉ: 88/7, Trương Định, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy (bản chính); 01 (một) nhẫn đeo tay vàng 75%, trọng lượng 1,350 chỉ; 01 (một) dây chuyền vàng 41,7% trọng lượng 1,214 chỉ; 01 (một) dây cHền vàng 75% trọng lượng 1,862 chỉ; 01 (một) dây chuyền tuổi vàng 68% trọng lượng 1,224 chỉ. Đây là tài sản bị cáo khai nhận mua từ tiền chiếm đoạt của bị hại, bị cáo đồng ý cần trừ vào số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại. Do đó, đối với tài sản này tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Trần Tấn H 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo được tính từ ngày 11/12/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi

bổ sung năm 2017;

Buộc bị cáo trả lại cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 138.555.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu năm trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với số tiền 485.378.000 đồng bị hại cho bị cáo mượn. Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi bị hại có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51, màu đen (đã qua sử dụng).

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ ATM ngân hàng MB; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Seabank và 01 (một) thẻ ngân hàng Vietcombank đều mang tên Trần Tấn H.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha MT15, màu xanh xám, biển số 65B2-664.86 (đã qua sử dụng), 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 65B2-664.86 chủ xe Nguyễn Hữu B, sinh năm 1989, địa chỉ: 88/7, Trương Định, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; 01 (một) hợp đồng mua bán xe máy (bản chính); 01 (một) nhẫn đeo tay vàng 75%, trọng lượng 1,350 chỉ; 01 (một) dây cHền vàng 41,7% trọng lượng 1,214 chỉ; 01 (một) dây cHền vàng 75% trọng lượng 1,862 chỉ; 01 (một) dây chuyền tuổi vàng 68% trọng lượng 1,224 chỉ, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số: 57/QĐ-VKSNK ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ);

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ