vanban.org

Bản án 77/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/12/2022. Giao bị cáo Nông Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là nơi cư trú của bị cáo để giám sát, giáo dục … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn H - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HS-ST
Ngày 30-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hiệu

Ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Vương Thị Choi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2022/TLST-HS, ngày 07 tháng 12 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo.

Nông Văn H, sinh ngày 11 tháng 11 năm năm 1995, tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H (cũ), xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, chỗ ở hiện nay: Thôn Bó Luồng, xã T, huyện Lộc, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn T, sinh năm 1960 và bà Hà Thị T, sinh năm 1961; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 11/10/2022 đến ngày 20/12/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn H: Ông Nguyễn Đình S, Luật sư văn phòng luật sư Nghĩa Hiệp thuộc Đoàn luật sư Lạng Sơn; có mặt.

- Bị hại: Bà Hoàng Thị P, trú tại: Thôn Bó Luồng, xã T, huyện Lộc, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Chu Bích T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/7/2022, Nông Văn H cầm 01 (một) con dao quắm tra cán gỗ, đầu lưỡi dao hình móc, dao có tổng chiều dài 144cm, chiều dài lưỡi dao 39cm, bản dao rộng nhất 05cm, đi phát cỏ bờ ruộng của gia đình tại thôn H (cũ), xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Khi Nông Văn H đi ra bờ ruộng thì thấy một đàn trâu gồm có 05 (năm) con đang ở trong ruộng lúa ăn lúa của gia đình, Nông Văn H cảm thấy bực tức vì trước đó vào buổi sáng cùng ngày mẹ của Nông Văn H là bà Hà Thị T cũng đã được đuổi đàn trâu này đi vì đến ăn lúa nên Nông Văn H đã cầm dao vừa đuổi vừa chém đàn trâu, Nông Văn H chém nhiều phát trúng vào phía sau của 03 (ba) con trâu. Trong đó có 01 (một) con trâu cái khoảng 08 (tám) tuổi làm bị thương một vết ở đuôi và bị thương nặng ở chân phía sau bên trái khiến con trâu không đi lại được, 01 (một) con trâu đực khoảng 03 (ba) tuổi làm cụt đuôi và 01 (một) con trâu nghé 10 (mười) tháng tuổi làm bị thương một vết ở chân phía sau bên trái.

Khoảng 16 giờ cùng ngày Hoàng Thị P là chủ sở hữu của đàn trâu đi tìm trâu ở khu đồi gần đó nhưng không thấy, sau đó thì Hoàng Thị P nhận được thông tin do Hà Văn T; Vi Thị G và Hà Thị H là bố mẹ chồng và em chồng của Hoàng Thị P về việc đàn trâu của Hoàng Thị P bị người khác chém bị thương.

Sau khi Hoàng Thị P phát hiện đàn trâu của mình bị người khác chém bị thương thì Nông Văn H đã đến gia đình của Hoàng Thị P nói về việc đàn trâu ăn lúa của gia đình Nông Văn H nên đã dùng dao chém trâu và đề nghị được thỏa thuận. Do Nông Văn H cùng là hàng xóm và là anh em trong họ hàng nên Hoàng Thị P đã đồng ý để cho Nông Văn H thỏa thuận mua lại con trâu cái bị chém trúng chân sau bên trái và tiền thuốc men chữa trị cho 02 (hai) con trâu còn lại với tổng số tiền 42.000.0000 đồng (bốn mươi hai triệu đồng). Tuy nhiên đến thời điểm thỏa thuận đã định Nông Văn H đã không thực hiện thỏa thuận trên vì cho rằng số tiền quá cao.

Do Nông Văn H đã không thực hiện theo thỏa thuận. Đến ngày 03/8/2022, Hoàng Thị P đã làm đơn trình báo lên Công an xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn về việc ngày 30/7/2022, Nông Văn H đã có hành vi dùng dao chém 03 (ba) con trâu của Hoàng Thị P bị thương và đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện L kết luận tổng giá trị tài sản bị thiệt hại, như sau:

- 01 (một) con trâu cái 08 (tám) tuổi, bị thương ở chân phía sau bên trái và bị đứt đuôi, giá trị tài sản bị thiệt hại: 8.275.000 đồng (tám triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

- 01 (một) con trâu đực 03 (ba) tuổi, bị đứt đuôi, giá trị tài sản bị thiệt hại: 3.250.000 đồng (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

- 01 (một) con trâu nghé 10 (mười) tháng tuổi, bị thương ở chân phía sau bên trái, giá trị tài sản bị thiệt hại: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 13.525.000 đồng (mười ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSLB, ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn H về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nông Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Bị hại bà Hoàng Thị P trình bày tại cơ quan điều tra: Ngày 30/7/2022 bà thả đàn trâu ra đồng từ sáng, đàn trâu gia đình bà thả rông không ai chăn dắt, đến khoảng 14 giờ cùng ngày bà nghe tin đàn trâu gia đình bà bị người khác chém, hiện con trâu mẹ không thấy đâu, bà bảo anh em trong nhà đi tìm, sau đó bà thấy Nông Văn H đến nhà bà bảo đàn trâu của gia đình bà ăn lúa của gia đình Nông Văn H nên đã bị Nông Văn H chém bị thương 03 con trâu. Sau đó hai bên gia đình đã thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại 03 con trâu tổng số tiền là 27.000.000 đồng. Nay gia đình bà đã nhận đủ số tiền không có yêu cầu đề nghị gì và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung: Biên bản xác minh bị cáo không có thu nhập làm ổn định, không có tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Gia đình bị cáo và bà Hoàng Thị P đã thỏa thuận bồi thường cho 03 con trâu bị thương số tiền là 27.000.000 đồng, bà Hoàng Thị P đã nhận đủ số tiền và không có ý kiến gì, do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đối với tiền 20.000.000 đồng bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L để khắc phục hậu quả, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho bị cáo.

Về vật chứng: 01 con dao quắm là phương tiện phạm tội, nay không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy.

Trong phần tanh luận, ý kiến của ông Nguyễn Đình S luật sư bào chữa cho bị cáo Nông Văn H nhất trí với nội dung Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về tội danh và điều luật áp dụng, tuy nhiên cần xem xét đến các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục hậu quả xong, bố mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế -xã hội khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của bà Chu Bích T – Trợ giúp viên pháp lý, thực hiện trợ giúp cho bị hại nhất trí nội dung Cáo trạng về tội danh và điều luật, tuy nhiên bị hại xin vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến gì.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo thấy hối hận việc làm của mình xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại bà Hoàng Thị P có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, bà Hoàng Thị P đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa của những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận của Hội đồng định giá tài sản, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/7/2022 bị cáo Nông Văn H đi ra bờ ruộng thấy một đàn trâu gồm có 05 (năm) con đang ở trong ruộng lúa ăn lúa của gia đình, Nông Văn H cảm thấy bực tức vì trước đó vào buổi sáng cùng ngày mẹ của Nông Văn H đã được đuổi đàn trâu này đi nên Nông Văn H đã cầm dao vừa đuổi vừa chém đàn trâu nên đã chém trúng phía chân sau của 03 con trâu làm bị thương, tổng giá trị thiệt hại là 13.525.000 đồng (mười ba triệu năm trăm hai mươi năm nghìn đồng). Với hành vi trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi dùng dao chém vào (con trâu) tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì tức giận không kiền chế được bản thân nên bị cáo đã cố ý dùng dao chém vào đàn trâu làm 03 con trâu bị thương, gây thiệt hại về tài sản, mà người đó không có mâu thuẫn với bị cáo. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật là người có nhân thân tốt. Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiên trọng, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại (đã xong), đây là ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bố đẻ bị cáo ông Nông Văn Tôn được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, mẹ đẻ bà Hà Thị T có Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, bị cáo sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị hại có lỗi trong việc không chăn dắt đàn trâu của gia đình để trâu ăn lúa của gia đình bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần có hình phạt thỏa đáng để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nơi cư trú, cụ thể rõ ràng; trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại bị cáo không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp và phù hợp quy định của pháp luật. Xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự quy định “ Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng…..”. Theo biên bản xác minh thể hiện bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hoàng Thị P đã nhận đủ tiền bồi thường không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 20.000.000 đồng bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L ngày 13/10/2022 để khắc phục hậu quả, tuy nhiên bị cáo đã trả số tiền bồi thường là 27.000.000 đồng cho bà Hoàng Thị P (đã nhận đủ) nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Hình sự trả lại cho bị cáo số tiền 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: 01 con dao quắm là phương tiên phạm tội nay không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nông Văn H bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo nêu ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đưa ra là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/12/2022.

Giao bị cáo Nông Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là nơi cư trú của bị cáo để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Bộ luật Hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Biện pháp tư pháp: Trả cho bị cáo Nông Văn H số tiền 20.000.000 đồng tại biên lai thu số 0005454 ngày 13/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự.

4. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao quắm có tra cán gỗ, đầu lưỡi dao hình móc, dao có tổng chiều dài 144cm, phần lưỡi dao bằng kim loại có vết mẻ, chiều dài lưỡi dao 39cm, bản dao rộng nhất 05cm.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ghi ngày 06 tháng 12 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niên yết.

Cỡ chữ