vanban.org

Bản án 77/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tú phạm tội Trộm cắp tài sản ;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tú 15 (mười lăm tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26-8-2022. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tú phạm tội Trộm cắp tài sản ;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HS-ST
Ngày: 29-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;

Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Côn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1984, Tên gọi khác: Không; nơi sinh và nơi cư trú: T dân phố K, thị tr n Q, huyên Giao Thu , tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học v n: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; v , con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-10-2012, bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội Tàng tr trái phép ch t ma tuý , ngày 26-9-2017, bị Toà án nhân dân huyện Giao Thu , tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp giật tài sản ngày 28-01-2020 thì ch p hành xong hình phạt . Bị cáo bị tạm gi từ ngày 26-8-2022 đến ngày 30-8-2022 chuyển tạm giam cho đến nay, "có mặt"

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Xuyến, sinh năm 1973; vắng mặt

Người làm chứng:

1. Ông Phạm Văn Tài, sinh năm 1939; vắng mặt

2. Ông Phạm Văn Đoan, sinh năm 1957. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên Phạm Văn Tú nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của nhà dân. Khoảng 07 giờ ngày 23-8-2022, T điều khiển xe mô tô nh n hiệu Dream, sơn màu nâu, biển kiểm soát 29R1- 0631 đến nhà chị Nguyễn Thị Xuyến, sinh năm 1973 ở xóm Xuân Hà, x Hải Đông, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định phát hiện gia đình chị Xuyến đi vắng, không có người trông coi. T vào sân nhà chị Xuyến quan sát cửa chính b ng g , khoá bên ngoài; cửa s phía đông nam b ng g , có 2 cánh đang mở ra ngoài, 5 song cửa g hình trụ tròn, kích thước m i song 1,5 x 90 cm. Do cửa đ cũ nên T dùng tay cầm song g thứ 3 hướng từ trái sang phải giật mạnh theo chiều từ trong ra ngoài làm song cửa s bị g y rơi xuống đ t và giật g y tiếp song thứ tư để tạo thành một ô trống trên cửa s có kích thước 50 x 90 cm, đột nhập vào trong nhà th y 01 con l n tiết kiệm b ng thạch cao đang đặt trên chiếc bàn học sinh kê phía đông gian buồng. Tú dùng tay cầm con l n đập xuống đ t l y đư c 520.000 đồng rồi c t vào Ti quần bên phải phía trước của mình. Sau đó, T đi ra phòng khách th y 01 chiếc đồng hồ côn nh n hiệu -G.B v b ng g , hình ch nhật kích thước 32 x 18 x 69 cm mà gia đình chị Xuyến đang treo ở tường phía đông. T dùng tay tháo chiếc đồng hồ mang theo lối cũ ra ngoài đặt lên giá để hàng phía trước của yên xe tẩu thoát. Sau đó, Phạm Văn T mang chiếc đồng hồ đến nhà ông Phạm Văn Tài, sinh năm 1939, trú tại xóm Lâm Hồ, x Giao Phong, huyên Giao Thu bán đư c 1.500.000 đồng rồi ăn tiêu hết. Đến ngày 26-8-2022, Phạm Văn T đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và gia đình bị cáo khắc phục số tiền 520.000 đồng cho chị Xuyến, trả lại số tiền 1.500.000đồng cho ông Phạm Văn Tài. Cơ quan điều tra đ thu gi chiếc đồng hồ để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn Tú thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐG ngày 30-8-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: Chiếc đồng hồ côn nh n hiệu - G.B v b ng g , hình ch nhật đ qua sử dụng tại thời điểm định giá trên thị trường có giá là 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đ trả lại chiếc đồng hồ cùng số tiền 520.000 đồng cho người bị hại, sau khi nhận lại tài sản chị Xuyến không yêu cầu gì thêm về phần dân sự và đề nghị xử lý đối với Phạm Văn T theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 76/CT-VKSHH ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Phạm Văn Tú về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đ nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn Tú về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tú từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26-8-2022. Không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đ đư c nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự nên về trách nhiệm dân sự không đề cập giải quyết.

Phần tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đ đư c thực hiện đều h p pháp.

Tại phiên tòa bị hại và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của nh ng người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Xét lời khai nhận của bị cáo Phạm Văn Tú tại phiên toà phù h p với các chứng cứ như: Lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra; đơn đề nghị và lời khai của bị hại; đơn xin đầu thú của bị cáo; bản kết luận định giá tài sản; lời khai người làm chứng và các tài liệu khác đ đư c lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền ăn tiêu nên Phạm Văn Tú nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác nên khoảng 7 giờ ngày 23-8-2022, Phạm Văn T đến nhà chị Nguyễn Thị Xuyến ở xóm Xuân Hà, x Hải Đông, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, l i dụng nhà chị Xuyến không có người Tú đ lén lút b g y song cửa s vào trong nhà l y trộm đư c số tiền 520.000 đồng trong con l n tiết kiệm b ng thạch cao và 01 chiếc đồng hồ côn trị giá 4.000.000 đồng mang đi tiêu thụ l y số tiền 1.500.000 đồng ăn tiêu hết. T ng trị giá tài sản Phạm Văn Tú đ chiếm đoạt là 4.520.000 đồng. Ngày 26-8-2022, Phạm Văn T đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó hành vi nêu trên của Phạm Văn Tú đ đủ yếu tố c u thành tội Trộm cắp tài sản , tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đ truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện thì th y: Do không có tiền tiêu sài cá nhân, bị cáo đ cố ý thực hiện hành vi phạm tội, lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi đó là nguy hiểm cho x hội, đ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của người khác đư c pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng trật tự trị an x hội và b t bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nh m trừng trị, giáo dục bị cáo và đ u tranh phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì th y: Bị cáo có nhân thân x u đ bị Tòa án đưa ra xét xử về hành vi Tàng tr trái phép ch t ma túy và hành vi Cướp giật tài sản nhưng bị cáo không l y đó làm bài học mà lại tiếp tục có hành vi lén lút vào trong nhà chị Xuyến để l y trộm tài sản t ng trị giá 4.520.000đồng mục đích để tiêu sài cá nhân. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đ ra đầu thú, tài sản bị cáo trộm cắp gia đình bị cáo đ khắc phục và thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù h p.

Xét tính ch t, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như phân tích ở trên. Xét cần áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định một mức hình phạt tương xứng với tính ch t, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện cũng đảm bảo mục đích của hình phạt.

Về hình phạt b sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập n định nên không áp dụng hình phạt b sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù h p.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị Xuyến đ đư c nhận lại toàn bộ tài sản bị m t, sau khi nhận lại tài sản, chị Xuyến không yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần dân sự; Đối với ông Phạm Văn Tài mua chiếc đồng hồ của T không biết đư c đó là tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý b ng pháp luật đối với ông Tài. Ông Tài đ đư c nhận lại số tiền 1.500.000đồng và không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự. Do đó, về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô nh n hiệu Dream, gắn biển kiểm soát 29R1- 0631 của ông Phạm Văn Đoan, sinh năm 1957 ở T dân phố Lâm Khang, thị tr n Q, huyện Giao Thu là bố đ bị cáo cho T mư n làm phương tiện đi lại, không biết T sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên xe không có đăng ký, số khung bị tẩy xoá nên Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu đ tách ra để xác minh xử lý sau là phù h p.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn Tú phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tú phạm tội Trộm cắp tài sản ;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tú 15 (mười lăm tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26-8-2022.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Văn Tú phải nộp 200.000đ hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c tống đạt h p lệ.

Trong trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ