vanban.org

Bản án 77/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Trường A. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Lê Trường A.

Về nuôi con: Giao cho chị K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Phúc Kh, sinh ngày 25-10-2019. Anh A không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "K-A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Trường A. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Lê Trường A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-8-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Kiên

2. Bà Huỳnh Thị Phương Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 379/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp 5, xã B, huyện G, tỉnh Tn;

Tạm trú: Khu phố AQ, phường AH, thị xã Tr, tỉnh Tn.

- Bị đơn: Anh Lê Trường A, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Ấp 4, xã B, huyện G, tỉnh Tn.

Chị K và anh A đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10-5-2022, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Trường A chung sống với nhau từ năm 2017, có qua tìm hiểu trước, hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B.

Sau khi kết hôn, chị và anh A sống chung với mẹ chồng tại ấp 4, xã B, huyện G, tỉnh Tn, thời gian sau thì vợ chồng thuê nhà trọ ở để đi làm. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh A không phụ giúp tiền để nuôi con và các chi phí sinh hoạt trong gia đình. Tính tình anh A cũng thay đổi, thường xuyên cáo gắt, nổi nóng với vợ con. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn tình cảm yêu thương nhau. Tháng 01-2022, vợ chồng sống ly thân cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không có gặp nhau và anh A cũng không về thăm con. Nay tình cảm vợ chồng giữa chị và anh A không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh A.

Về nuôi con: Chị và anh A có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Phúc K, sinh ngày 25-10-2019. Hiện cháu Kh đang ở cùng với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh A chung sống không có tài sản chung nên chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Anh chị không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Lê Trường A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, chị K đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, còn anh A thì chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K đối với anh A;

Về con chung: giao cho chị K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Phúc Kh, sinh ngày 25-10-2019. Chị Kim không yêu cầu anh An cấp dưỡng nuôi con nên cần ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị K có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn anh Lê Trường A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị K và anh Lê Trường A là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị K thì nguyên nhân là do anh A không phụ giúp tiền nuôi con và các chi phí sinh hoạt trong gia đình. Tính tình anh A cũng thay đổi, thường xuyên cáo gắt, nổi nóng với vợ con, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Từ khi chị K nộp đơn ly hôn đến nay, mặc dù có thông báo cho anh A biết và anh A đã được Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, tham gia hòa giải và xét xử nhưng anh A vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị K. Từ các chứng cứ trên cho thấy, mâu thuẫn của anh chị trở nên trầm trọng, anh A cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không còn đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K đối với anh A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con:

Anh chị có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Phúc Kh, sinh ngày 25-10-2019. Hiện cháu Kh đang sống chung với chị K. Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Xét yêu cầu của chị K thì thấy: Từ khi chị K và anh A sống ly thân, con chung do chị K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện nay chị K có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Còn anh A thì không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với việc nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử cần giao cho chị K được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chị K không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị K khai không có tài sản chung, chị K và anh A đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị K khai không có, chị K và anh A đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Chị K phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Trường A. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Lê Trường A.

2. Về nuôi con: Giao cho chị K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Phúc Kh, sinh ngày 25-10-2019. Anh A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0024477 ngày 28-6-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị K đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ