vanban.org

Bản án 77/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Dương Quốc T 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Y - TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2021/HSST
Ngày: 22/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Y, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và bà Nguyễn Thị Băng

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thái Hà -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Y tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2021/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

Dương Quốc T, sinh ngày 13 tháng 7 năm 198X, tại tỉnh Gia Lai; Nơi ĐKHKTT: Thôn Tây Hồ, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở: Tổ 12, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam. Con ông Dương Sỹ B (đã chết) và con bà Phạm Thị L, sinh năm 195X. Hiện trú tại thôn Tây Hồ, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai; Vợ: Lê Thị Kim B, sinh năm 199X (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2017. Vợ cũ và con gái hiện đang cư trú tại tổ 09, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 232/2021/HSST- LCĐKNCT ngày 02/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Y. Hiện đang tại ngoại tại tổ 12, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đức Dũng - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Tô Anh D, sinh năm 1986. Trú tại: Thôn Đồng Tày, xã Xuân Vân, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h ngày 20/6/2021, Dương Quốc T đến nhà vợ cũ là chị Lê Thị Kim B để thăm con gái là cháu Dương Lê Bảo Y, do lúc này cháu Bảo Y đang đi chơi cùng bạn trai của chị B là anh Tô Anh D nên T không gặp được. Sau đó, thấy chị B điều khiển xe mô tô đi nên T cũng đi theo sau, đến khu vực cầu Công viên Yên Hòa, thuộc tổ 01, phường N, thành phố Y, chị B gặp anh D để đón cháu Bảo Y. Do biết anh D có mối quan hệ tình cảm với chị B nên khi thấy D nhìn mình, T cảm thấy bực tức, sau đó giữa T và D xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. T đi ra chỗ để xe mô tô của mình rút chùm chìa khóa lấy 01 chiếc bấm móng tay, trong bấm móng tay có 02 thanh kim loại, trong đó 01 thanh dài 5cm dạng lưỡi dao có mũi nhọn đi về phía D. Khi đến gần, T dùng tay đấm 01 phát vào ngực của anh D, D dùng chiếc mũ bảo hiểm đập 01 phát trượt qua đầu trúng vào vai trái của T (lúc này T đang đội mũ bảo hiểm), T dùng chiếc bấm móng tay bên trong có thanh kim loại dài 5cm, dạng lưỡi dao có mũi nhọn đâm về phía D trúng vào phần gáy của D, bị đánh D dùng tay đấm 01 phát vào mặt của T làm Thái bị đau và choáng, khi đang trong tư thế mặt cúi xuống, T vung tay đâm về phía D thì trúng 02 phát liên tiếp vào vùng gáy của D. Sau đó cả 02 xô đẩy nhau ngã xuống đất, tiếp tục vật lộn, T ngồi lên vùng bụng của D, trong lúc giằng co, T đã đâm tiếp 01 nhát trúng vào vùng má trái của D, được mọi người can ngăn thì sự việc kết thúc.

Hậu quả: Tô Anh D bị thương tích tại vùng gáy và vùng má trái, phải điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái từ ngày 20/06/2021 đến ngày 28/06/2021.

Dương Quốc T bị thương tích tại sống mũi, vùng dưới mắt trái, rách da tại ngón trỏ phải.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 108/TgT, ngày 12/7/2021, của Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tô Anh D do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm)”.

Bản cáo trạng số 70/CT-VKS -TP ngày 01/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Y, truy tố bị cáo Dương Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Y giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố Dương Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Dương Quốc T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại - Tô Anh D số tiền là 10.000.000đồng, anh D không có yêu cầu, đề nghị gì khác về việc bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

- Về vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX miễn tiền án phí cho bị cáo.

* Người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng như Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái đề nghị. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình thuộc hộ nghèo, thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội là do nhất thời bột phát, không kìm nén được cảm xúc vì vẫn còn tình cảm với vợ cũ và lo lắng cho sự an toàn của con gái, mặt khác người bị hại cũng có lời nói, thái độ gây bức xúc cho bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Về án phí, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không có tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, những tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Người bị hại - Tô Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của anh Dũng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật TTHS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Quốc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể bị cáo, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, dấu vết để lại trên thân thể người bị hại, bản ảnh hiện trường, bản kết luận điều tra, cáo trạng... nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/6/2021, tại khu vực tổ 01, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Dương Quốc T đã có hành vi dùng thanh kim loại dài khoảng 5cm, dạng lưỡi dao có mũi nhọn (là một bộ phận của chiếc bấm móng tay) tấn công, gây thương tích vào vùng gáy và má trái của anh Tô Anh D. Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích, anh D bị 03 vết sẹo tại vùng gáy và 01vết sẹo tại vùng má trái, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do Dương Quốc T gây ra tại thời điểm giám định là 11%. Hành vi dùng vật sắc nhọn tấn công vào vùng gáy, má trái của anh Tô Anh D do Dương Quốc T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo HĐXX thấy:

Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi đầy đủ, nên buộc phải biết việc dùng thanh kim loại có mũi nhọn tấn công vào vùng gáy và mặt của anh Tô Anh D là nguy hại đến sức khỏe của anh D nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 10.000.000đồng, nên cho hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân tại nơi cư trú, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, xét nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo vẫn còn tình cảm với vợ cũ và lo lắng cho sự an toàn của con gái, khi chị B gửi con cho anh D (bạn trai mới quen trên mạng) trông hộ mà không trực tiếp trông nom, quản lý. Mặt khác, anh D cũng có những lời nói xúc phạm, thách thức dẫn đến bị cáo bức xúc, nhất thời thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, có thể cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

Trong vụ án này, Tô Anh D có hành vi gây thương tích cho Dương Quốc T tại sống mũi, vùng dưới mắt trái, bị cáo từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể, do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không có căn cứ để xem xét, xử lý về hình sự đối với Tô Anh D về hành vi “Cố ý gây thương tích” là phù hợp quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tô Anh D đã nhận của bị cáo Dương Quốc T số tiền 10.000.000đồng chi phí chữa trị, khắc phục hậu quả và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về việc bồi thường, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra có thu giữ 01 chiếc bấm móng tay bằng kim loại, đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên bị tịch thu tiêu hủy; đối với 01 mũ bảo hiểm, sau mũ có dòng chữ “Amby HELMET” là tài sản của anh Tô Anh D, không liên quan đến việc phạm tội nên được trả lại cho chủ sở hữu.

Xét đề nghị của Người bào chữa và Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX, nên được chấp nhận.

Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Dương Quốc T 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Y trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bấm móng tay bằng kim loại, dài 07 cm, trong bấm móng tay có hai thanh kim loại, mỗi thanh dài 5cm, thanh thứ nhất dạng lưỡi dao mũi nhọn, một lưỡi sắc, thanh thứ hai có đặc điểm dạng mở đồ uống (hai mũi cong theo chiều hướng quay vào nhau).

- Trả cho anh Tô Anh Dũng: 01 mũ bảo hiểm vỏ màu xám, loại mũ chụp qua cằm, sau mũ có dòng chữ “Amby HELMET”.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Dương Quốc T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Dương Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Người bị hại Tô Anh D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ