- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn C - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự - Tuyên bố; Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tranh tụng; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2021/HS-ST Ngày: 20-5-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Oanh
Ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2021/TLST- HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2021/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/01/1993 tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn O, sinh năm 1963 và bà: Vàng Thị M (đã chết); Có vợ là Sầm Thị M, sinh năm 1994 và có 02 con; Tiền sự: Không. Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 30/9/2016, Phan Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt 01 năm t về tội Trộm c p tài sản theo Bản án số 122/2016/HSST Hiện bị cáo đã chấp hành xong hình phạt t trở về địa phương ngày 18/8/2017 nhưng chưa thi hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự nên chưa được xóa án tích đối với Bản án nêu trên.
Bị cáo bị b t, tạm giữ từ hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/01/2021 đến ngày 26/01/2021 bị khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy , hồi 18 giờ 00 phút ngày 26/01/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh L. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Văn T, sinh năm 2000; Địa chỉ: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh L. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Phan Văn C là người nghiện chất ma túy Khoảng 16 giờ ngày 20/01/2021, C nhờ bạn là Hà Văn T, sinh năm 2000, trú tại bản Nậm Ng a, xã Phúc Than, huyện Than Uyên lên bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên Mục đích C lên bản Noong Thăng tìm mua Heroine để sử dụng nhưng không nói cho T biết Hà Văn T lấy xe mô tô mang biển kiểm soát 25F2-0121 của T chở C lên bản Noong Thăng, xã Phúc Than Đến bản Noong Thăng, C bảo Toản ở ngoài đợi còn C đi sâu vào trong bản Noong Thăng thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ nhân thân, lai lịch Qua nói chuyện C hỏi mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với giá 200 000 đồng Quá trình mua bán, chỉ có C và người đàn ông dân tộc Mông đó biết. Mua được Heroine, C n m giữ trong lòng bàn tay phải quay ra nơi T đợi rồi bảo T chở C quay về Trên đường đi, C không nói cho T biết việc C đang tàng trữ trái phép Heroine trên người. Hồi 17 giờ 20 phút c ng ngày, trên quốc lộ 32 thuộc địa phận bản Khì 1, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, Tổ công tác phối hợp Công an các xã Phúc Than, Mường Than thuộc Công an huyện Than Uyên phát hiện và lập biên bản b t người có hành vi phạm tội quả tang đối với Phan Văn C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy Vật chứng thu giữ của Phan Văn C là 01 gói Heroine có khối lượng 0,32 gam. Ngay sau đó, Tổ công tác phối hợp Công an các xã Phúc Than, Mường Than thuộc Công an huyện Than Uyên đã thông báo b t người phạm tội quả tang, bàn giao người bị b t, vật chứng và tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên giải quyết theo thẩm quyền Ngày 26/01/2021, Phan Văn C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Ngày 27/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên đã tiến hành trưng cầu người giám định Tư pháp để mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu chất bột, màu tr ng thu giữ khi b t quả tang Phan Văn C gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định Tư pháp số 28 ngày 21/01/2021 của người giám định theo vụ việc kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Phan Văn C có khối lượng 0,32 gam. Tại bản Kết luận giám định số125 ngày 24/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 (Một) mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,28 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu đều thu giữ của Phan Văn C; 01 xe mô tô, biển kiểm soát 25F2 – 0121 tạm giữ của Hà Văn T hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
Bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Phan Văn C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Khấu trừ cho bị cáo 06 ngày tạm giữ hình sự (từ hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/01/2021 đến hồi 18 giờ 00 phút ngày 26/01/2021). Thời hạn thi hành hình phạt t tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,28 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Trả lại 01 xe mô, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RS, màu sơn xanh – tr ng - đen, biển kiểm soát 25F2 – 0121, số khung RLHHC09046Y3540, số máy HC09E-6358417 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hà Văn T.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Văn C.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phan Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau c ng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Chiều ngày 20/01/2021, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Phan Văn C đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 200 000 đồng, mục đích để sử dụng Mua được Heroine, C n m giữ trong lòng bàn tay phải không cho ai biết Hồi 17 giờ 20 phút cùng ngày, tại bản Khì, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Phan Văn C đang có hành vi tàng trữ 0,32 gam thì bị Tổ công tác phối hợp Công an các xã Phúc Than, Mường Than thuộc Công an huyện Than Uyên b t quả tang. Ngày 26/01/2021, Phan Văn C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Bị cáo Phan Văn C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi tàng trữ trái phép 0,32 gam Heroine, mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng Do nghiện ma túy, bị cáo Phan Văn C đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,32 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Phan Văn C sinh ra tại huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, trưởng thành kết hôn với chị Sầm Thị M và có 02 con. Bị cáo còn trẻ, có sức khỏe nhưng không tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chịu khó lao động, sản xuất mà m c vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm t về tội Trộm c p tài sản , hiện chưa được xóa án tích Bị cáo đã không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy cho thấy sự coi thường pháp luật của bị cáo
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Văn C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại bản Nậm Ng a, xã Phúc Than, huyện Than Uyên là v ng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 72/QĐ-TTg ngày 16/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục áp dụng Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng còn lại của vụ án là 0,28 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy
Đối với 01 xe mô tô, biển kiểm soát 25F2 – 0121 Cơ quan điều tra Công an huyện Than Uyên đã tạm giữ của anh Hà Văn T trong quá trình b t quả tang Phan Văn C Căn cứ đơn đề nghị của anh Hà Văn T với nội dung xin lại chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của anh Hà Văn T làm phương tiện phục vụ trong sinh hoạt Xét đơn đề nghị là có căn cứ và quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Hà Văn T. Khi chở C lên bản Noong Thăng, xã Phúc Than, anh T không biết C đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy trên người . Do đó, cần trả lại chiếc mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Văn T.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn C là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại v ng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 72/QĐ-TTg ngày 16/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục áp dụng Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm Do đó, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo Phan Văn C 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Như vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, c ng với việc bị cáo C là người nghiện ma túy lâu năm, bản thân đã có một tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội cho thấy sự coi thường pháp luật của bị cáo Do vậy, cần phải có mức hình phạt cao hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Các vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Phan Văn C khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét
Đối với anh Hà Văn T là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô, biển kiểm soát 25F2 – 0121 Quá trình điều tra xác định anh T không biết việc C mua, tàng trữ trái phép Heroine nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên không đề cập xử lý đối với anh Hà Văn T là có căn cứ
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn C 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 06 ngày tạm giữ hình sự (từ hồi 18 giờ 00 phút ngày 20/01/2021 đến hồi 18 giờ 00 phút ngày 26/01/2021). Thời hạn thi hành hình phạt t tính từ ngày bị cáo đi thi hành án
[2] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,28 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện Than Uyên bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu Trả lại 01 xe mô, nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RS, màu sơn xanh – tr ng - đen, biển kiểm soát 25F2 – 0121, số khung RLHHC09046Y3540, số máy HC09E-6358417 cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hà Văn T.
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 4 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo Phan Văn C 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Than Uyên; - Chi cục THADS Than Uyên; - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên; - UBND xã Phúc Than; - Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Quàng Thị Phƣơng |