- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tuấn A "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2021/HS-ST Ngày: 10/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy
Ông Hà Thanh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Tuấn A – Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1991; Tại: Hà Tĩnh; HKTT và nơi cư trú: Thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T , sinh năm: 1963 và bà Bùi Thị H , sinh năm: 1969; Vợ: Trần Thị P , sinh năm: 1986 ( Đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2012.
Tiền án. Tại Bản án số 57/2013/HS-ST ngày 17/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tại Bản án số 33/2018/HS-ST ngày 25/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản;
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà từ ngày 16/4/2021 đến nay; Có mặt.
- Bị hại: Anh Hoàng Trung T , sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn Liên Hòa, xã Phi Tô, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị L , sinh năm: 1971; Địa chỉ: Thôn Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
+ Chị Phạm Thị Á , sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
+ Anh Bùi Trung N , sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà nhận được tin báo của anh Hoàng Trung T , sinh năm: 1989, HKTT: Thôn Liên Hòa, xã Phi Tô, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng về việc anh Thực bị mất 05 tấm cốp pha bằng sắt dùng để xây dựng công trình tại cổng Trạm y tế xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà đã triệu tập Bùi Tuấn A , sinh năm: 1991, HKTT: Thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng lên làm việc. Quá trình làm việc Bùi Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 14/4/2021, Bùi Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu trắng, BKS: 49D1 - 182.70 của em ruột là anh Bùi Trung N , sinh năm: 1995 từ thôn Tân Đức, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà đi đến khu vực Trạm y tế xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến nơi, Bùi Tuấn A phát hiện có một đống sắt cốp pha miếng dùng để đổ cống của công trình đang thi công trước Trạm y tế. Bùi Tuấn A thấy không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm mang đi bán lấy tiền mua Ma túy để sử dụng. Bùi Tuấn A đi lại chỗ đống sắt lấy một tấm sắt cốp pha có trọng lượng 45kg cho lên xe và chở đến tiệm phế liệu tại dốc 200 thuộc xã Tân Hà, huyện Lâm Hà bán cho bà Nguyễn Thị L , sinh năm 1971, HKTT: thôn Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà với giá 7000đồng/kg và bán được 315.000đồng. Sau đó Tuấn Anh đi ra bờ hồ Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà mua Ma túy của một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch và tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 09 giờ ngày 15/4/2021, Bùi Tuấn A tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 49D1 - 182.70 đến khu vực Trạm y tế xã Tân Hà trộm 01 miếng sắt cốp pha có trọng lượng 55kg bán cho bà Nguyễn Thị L , với giá 7000đồng/kg được số tiền 385.000đồng.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày 15/4/2021, Bùi Tuấn A tiếp tục đi đến Trạm y tế xã Tân Hà thực hiện hành vi trộm cắp lấy 01 miếng sắt cốp pha có trọng lượng 100kg và bán cho bà Nguyễn Thị L được số tiền 700.000đồng. Số tiền trên Bùi Tuấn A mua Ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Vào khoảng 09 giờ ngày 16/4/2021, Bùi Tuấn A tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 49D1 - 182.70 đến khu vực trạm y tế xã Tân Hà lấy trộm 01 miếng sắt cốp pha có trọng lượng 45kg bán cho con gái bà Lan là chị Phạm Thị Á , sinh năm 1993, HKTT: Thôn Tân Trung, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà với số tiền 315.000đồng.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày 16/4/2021, Bùi Tuấn A tiếp tục điều khiển xe máy đi lên Trạm y tế xã Tân Hà trộm thêm 01 miếng sắt cốp pha có trọng lượng 95kg bán cho bà Nguyễn Thị L với số tiền 665.000đồng. Số tiền trên Tuấn Anh cũng mua Ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ: 03 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 55cm x 200cm; 02 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 100cm x 200cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu trắng biển số 49D1 - 182.70.
Tại kết luận số 32/HĐĐG ngày 19 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Lâm Hà kết luận: 03 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 55cm x 200cm, 02 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 100cm x 200cm có tổng giá trị là 3.175.000 đồng ( Ba triệu một trăm bảy mươi năm ngàn đồng).
Về xử lý vật chứng: Ngày 01/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả 03 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 55cm x 200cm và 02 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 100cm x 200cm cho anh Hoàng Trung T ; Trả một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS: 49D1 - 182.70 cho anh Bùi Trung N .
Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Trung T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Bà Nguyễn Thị L không yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 27/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố Bùi Tuấn A ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Tuấn A không khiếu nại hay thắc mắc gì về bản cáo trạng và khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Tuấn A từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2021. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và những tài liệu, chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời từ ngày 14/4/2021 đến ngày 16/4/2021, tại cổng Trạm y tế xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Bùi Tuấn A đã 05 lần thực hành vi lén lút chiếm đoạt 05 tấm cốp pha bằng kim loại của anh Hoàng Trung T . Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 3.175.000 đồng (Ba triệu một trăm bảy mươi năm ngàn đồng). Bị cáo Bùi Tuấn A là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà không phải lao động, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp lén lút xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được phạm luật bảo vệ. Mặc dù, mỗi lần bị cáo trộm cắp chưa đến 2.000.000đồng và tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.175.000đồng nhưng vào năm 2013 bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Năm 2018 bị cáo lại bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp tái phạm. Đến nay bị cáo chưa được xóa án tích mà bị cáo lại phạm tội và lần phạm tội này thuộc trường hợp định khung hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của anh Thực để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Các lần bị cáo trộm cắp đều vào ban ngày, nơi nhiều người qua lại, hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang lo lắng, nghi kỵ trong quần chúng nhân dân và tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Trong khi bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án về các tội xâm phạm quyền sở hữu, các lần bị cáo bị kết án đều thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần (Phạm tội 02 lần trở lên) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, tu chí làm ăn giúp đỡ gia đình mà bị cáo vẫn nghiện ma túy và lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này bị cáo cũng thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy và tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bà Nguyễn Thị L và chị Phạm Thị Á khi thực hiện hành vi mua bán 05 tấm cốp pha với bị cáo thì bà Lan và chị Ánh không biết được đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên bà Lan và chị Ánh không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Trung T đã nhận lại tài sản 03 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 55cm x 200cm và 02 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 100cm x 200cm. Tại phiên tòa anh Thực vắng mặt nhưng trong lời khai của mình anh Thực khẳng định đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS: 49D1 - 182.70 bị cáo sử dụng để đi trộm cắp tài sản nhưng xe này là của anh Bùi Trung N . Anh Nguyên không biết bị cáo lấy xe của anh Nguyên để sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe này cho anh Nguyên. Tại phiên tòa anh Nguyên vắng mặt và trong lời khai của mình anh Nguyên không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Bà Nguyễn Thị L và chị Phạm Thị Á có mua 03 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 55cm x 200cm và 02 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 100cm x 200cm, với khối lượng 340kg x 7.000đồng/01kg, bà Lan đã thanh toán cho bị cáo số tiền 2.380.000đồng nhưng sau đó cơ quan điều tra đã thu hồi 05 tấm cốp pha trên để trả lại cho anh Thực. Tại phiên tòa bà Lan và chị Ánh vắng mặt nhưng trong lời khai của mình bà Lan, chị Ánh không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà Lan, chị Ánh số tiền 2.380.000đồng, đây là sự tự nguyện của bà Lan, chị Ánh nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Ngày 01/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả 03 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 55cm x 200cm; 02 tấm cốp pha bằng kim loại màu nâu đã hoen rỉ dính bê tông khô có kích thước 100cm x 200cm cho anh Hoàng Trung T ; Trả một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS: 49D1 - 182.70 cho anh Bùi Trung N . Anh Thực và anh Nguyên đã nhận lại tài sản của mình nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Tuấn A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2021.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Tuấn A phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS - BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đoàn Hạnh Trang |