vanban.org

Bản án 77/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 22/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Phúc Q phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt Hà Phúc Q, 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 08/4/2021. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thống nhất, thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo Hà Phúc Q với bị hại Hà Doãn B và người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Doã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Phúc Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Phúc Q phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2021/HS-ST
Ngày 22- 9 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phúc An Hoành,

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Quang Phượng, Nguyên Bí thư Huyện Đoàn Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;

2. Ông Nguyễn Xuân Tuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2021/TLST-HS ngày 27/8/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST-HS ngày 08/9/2021 đối với bị cáo:

HÀ PHÚC Q, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12/02/2003 tại huyện C, tỉnh T; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Phúc Q1, sinh năm 1977 và bà Trần Thị M, sinh năm 1977; vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 08/4/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thành Minh, Luật sư thuộc văn phòng luật sư số 54, Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang; địa chỉ: Số nhà 253, đường Trần Phú, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

Bị hại: Anh Hà Doãn B, sinh 23/12/2004; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hà Thị K, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thanh Thủy, Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Hà Phúc S, sinh ngày 16/8/2005, địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Hà Phúc S: Ông Hà Phúc S1, sinh năm 1977 (là bố đẻ), địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

2. Ông Hà Phúc S1, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

3. Ông Hà Phúc D, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T; chỗ ở hiện nay: Chợ P, xã P, huyện T, tỉnh B, có mặt.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 11/10/2002, địa chỉ Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

2. Nông Công T, sinh ngày 10/4/2005, địa chỉ Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Nông Công T: Bà Hoàng Thị C, địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, vắng mặt.

3. Nông Quang L, sinh ngày 10/5/2003; địa chỉ Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

4. Bế Ngọc H, sinh ngày 25/02/2005; địa chỉ Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Bế Ngọc H: Ông Bế Văn K1, sinh năm 1978 (là bố đẻ); địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

5. Lục Văn H1, sinh 23/11/2003; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Lục Văn H1: Ông Lục Văn Đ1, sinh năm 1977 (là bố đẻ); địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

6. Nông Văn M, sinh ngày 22/7/2004; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Nông Văn M: Bà Ma Thị P, sinh năm 1982 (là mẹ đẻ); địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

7. Hà Phúc K2, sinh ngày 21/8/2004; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Hà Phúc K2: Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1985 (là mẹ đẻ); địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

8. Phạm Tuấn A, sinh ngày 12/12/2005; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Phạm Tuấn A: Ông Hà Phúc D2, sinh năm 1961; địa chỉ thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, có mặt.

9. La Minh Q2, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, vắng mặt.

Người đại diện của La Minh Q2: Ông Hà Phúc C1; địa chỉ Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, vắng mặt.

10. Hà Phúc Q3, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 11/02/2021, Hà Phúc Q, ngồi sau xe mô tô do Nguyễn Văn Đ điều khiển đi từ xã H, huyện C về nhà. Lúc đi, Đ đưa điện thoại của mình cho Q cầm hộ, trên đường đi do mâu thuẫn cá nhân Phạm Tuấn A, sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook là "Tuấn A" để nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Đ có tài khoản là "Nguyễn Đ" để chửi Đ. Q đọc được tin nhắn và xưng tên mình để nhắn tin chửi lại Tuấn A cả hai thách thức đánh nhau và hẹn gặp nhau ở cổng trường THCS xã X, thuộc thôn L, xã X, huyện C, tỉnh T. Sau đó Đ và Q đi đến khu vực sân bóng thuộc thôn N, xã X thì gặp Hà Phúc S, Nông Văn M, Lục Văn H1, Bế Ngọc H, Nông Quang L, Nông Công T, Hà Phúc K2, Lục Văn A. Tại đây Q nói cho mọi người cùng nghe việc mâu thuẫn với Tuấn A, sau đó Q hỏi S “nhà có dao không cho Q mượn” (Q không nói với S mượn dao để làm gì), do là bạn bè với nhau nên S đồng ý chở Q về nhà để giả vờ tìm dao. Khi về đến nhà Q đứng đợi ở cổng, S một mình đi vào trong nhà tìm và quay lại nói với Q không có dao để cho Q mượn. S đi xuống gian bếp của gia đình, lúc này Q cũng đi vào theo, Q nhìn thấy 01 con dao loại dao bài, chuôi bằng gỗ dài 37,5cm, bản rộng trung bình 5,5cm (đặt dưới đất cạnh khu vực nấu ăn nhà S) rồi hỏi S "Cho tao mượn con này được không". Thấy S quay mặt đi, không nói gì nên Q vội giấu con dao vào trong áo trước bụng, không nói cho S biết rồi đi ra xe mô tô. Khi thấy Q không cầm gì trên tay nên S điều khiển xe mô tô chở Q quay lại sân bóng. Đến nơi Q nói với mọi người "Có ai đi theo tao thì đi" và bảo Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô chở Q đến khu vực cổng trường THCS X.

Đối với Tuấn A, sau khi hẹn đánh nhau với Q đã đi đến cổng trường Trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp huyện C, thuộc thôn C, xã X, huyện C và gặp La Minh Q2, Hà Doãn B, Hà Phúc Q3. Tại đây, Tuấn A nói cho B, Q2, Q3 biết "Q có hẹn đánh nhau ở cổng trường THCS X", do chưa biết Q là ai nên đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì Q2 điều khiển xe mô tô chở B, còn Q3 điều khiển xe mô tô chở Tuấn A đi đến khu vực cổng trường THCS X, cùng lúc này Q và Đ cũng đi xe vừa đến và dừng xe phía trước cổng trường THCS X, thấy vậy, Hà Doãn B một mình tiến về phía Q vừa đi vừa hỏi “Thằng nào là thằng Q”, Q chủ động bước xuống xe mô tô, dùng tay phải rút con dao đang giấu bên trong áo, phía trước bụng và nói “tao Q đây”. Khi cách nhau khoảng 01 mét, B lao đến dùng tay trái đấm hai phát trúng vào vùng mặt bên phải của Q. Bị đánh, Q lùi lại, thấy B tiến tới định đánh tiếp, Q giơ dao lên thì thấy B đưa tay trái ra đằng trước mặt ngang đầu, thấy vậy Q dùng dao chém 01 nhát hướng từ trên xuống dưới từ phải qua trái về phía B làm phần lưỡi dao trúng vào cẳng tay trái B gây thương tích (mục đích chém là để gây thương tích cho B). Q tiếp tục vung dao chém tiếp 2 đến 3 nhát về phía B nhưng không trúng. Sau đó được mọi người can ngăn, Q cầm dao về nhà S trả rồi đi về nhà, còn B bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu.

Kết luận giám định số: 273/GĐ-KTHS (PC09) ngày 05/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Dấu vết thu tại hiện trường, trên con dao gửi giám định là máu người, thuộc nhóm máu B.

Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm huyết học ngày 26/02/2021 của Trung tâm y tế huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang kết luận nhóm máu của Hà Doãn B, thuộc nhóm máu B.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 52/2021/TgT ngày 06/4/2021, kết luận đối với Hà Doãn B:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương hoàn toàn thần kinh trụ (Bàn tay trái kiểu vuốt trụ): 31%;

- Tổn thương động mạch trụ cẳng tay trái đã khâu nối kết quả tốt: 04%;

- Gẫy 02 xương cẳng tay trái, can liền tốt, trục thẳng: 15%;

- Sẹo 1/3 giữa cánh tay trái: 01%;

- Sẹo 1/3 dưới cẳng tay trái như mô tả: 01%;

- Sẹo mặt ngoài cẳng tay trái như mô tả: 01%;

- Sẹo mặt trong cẳng tay trái như mô tả: 01%.

2. Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích gẫy 02 xương cẳng tay trái; tổn thương động mạch trụ cẳng tay trái; tổn thương thần kinh trụ cẳng tay trái; sẹo 1/3 giữa cánh tay trái; sẹo 1/3 dưới cẳng tay trái là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

3. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 47% (Bốn mươi bảy phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.

Cáo trạng số: 63/CT-VKSCH ngày 27/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Hà Phúc Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Phúc Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 90, 91, 101, 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Phúc Q từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 08/4/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa giữa bị cáo với bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại. Bị cáo Q có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Hà Doãn B tổng số tiền là 75.000.000 đồng, đã thực hiện bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền là 50.000.000 đồng. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 590, 357 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về số tiền bồi thường thiệt hại, buộc bị cáo tiếp tục có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền 50.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đối với 01 dao dài 37,5 cm, chuôi dao bằng gỗ, bản rộng trung B 5,5cm, loại dao một lưỡi sắc, trên bản dao có khắc "KM-21BA..." và có một lỗ tròn đường kính 01cm (dao cũ đã qua sử dụng), ông Hà Phúc S1 không đề nghị nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Phúc Q phát biểu quan điểm: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên dưới 18 tuổi. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hà Phúc Q mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với đại diện hợp pháp của gia đình bị hại. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền là 75.000.000 đồng, đã thực hiện bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp số tiền 50.000.000 đồng.

Bị cáo Hà Phúc Q xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/02/2021, do có nhắn tin với Phạm Tuấn A và có hẹn đánh nhau, bị cáo có đi đến khu vực cổng trường THCS X. Khi đến nơi bị cáo có gặp Hà Doãn B và B có hỏi “Thằng nào là thằng Q”, bị cáo đáp "Tao Q đây". Sau đó Hà Doãn B đấm hai phát trúng vào vùng mặt bên phải của bị cáo, bị cáo lùi lại, thấy B tiến tới định đánh tiếp, bị cáo dùng tay phải rút con dao đang giấu bên trong áo, phía trước bụng và giơ dao lên thì thấy B đưa tay trái ra đằng trước mặt ngang đầu, thấy vậy bị cáo dùng dao chém 01 nhát hướng từ trên xuống dưới từ phải qua trái về phía B làm phần lưỡi dao trúng vào cẳng tay trái B gây thương tích. Mục đích bị cáo chém B là để gây thương tích cho B. Sau đó bị cáo tiếp tục vung dao chém tiếp 02 đến 03 nhát về phía B để dọa nhưng không trúng. Nhất trí với nội dung cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Nhất trí nội dung bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và không có ý kiến bổ sung thêm, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, xin lỗi bị hại, đại diện gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại, nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền là 75.000.000 đồng, đã được đại diện gia đình thực hiện bồi thường thay cho số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền 50.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phát biểu quan điểm: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nghiêm trọng, dùng hung khí nguy hiểm gây tỷ lệ tổn thương cho bị hại 47% sức khỏe. Tuy nhiên xem xét sự việc thì bị hại cũng có lỗi một phần (dùng tay đấm bị cáo trước), tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ mức án cho bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa giữa bị cáo và bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại, bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 75.000.000 đồng, đã thực hiện bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 50.000.000 đồng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định và tuyên quyền kháng cáo bản án của người tham gia tố tụng theo quy định.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Nhất trí theo nội dung bào chữa của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại và nội dung luận tội của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 75.000.000 đồng, đã thực hiện bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 50.000.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hà Phúc S và đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hà Phúc S1 xác định: Hà Phúc S là con đẻ của ông, con dao bị cáo Hà Phúc Q dùng để chém Hà Doãn B là dao của gia đình ông. Tối ngày 11/02/2021 khi Hà Phúc Q và Hà Phúc S đi chơi về vào gia đình ông, xuống bếp lấy dao sau đó đã gây thương tích cho Hà Doãn B. Khi Hà Phúc Q lấy dao thì con trai ông Hà Phúc S không biết mục đích Hà Phúc Q lấy dao để gây thương tích cho người khác. Bản thân ông tối ngày 11/02/2021 cũng ở nhà nhưng không biết sự việc. Con dao của gia đình ông mà bị cáo Hà Phúc Q tự ý lấy đi sau đó gây thương tích cho anh Hà Doãn B, hiện nay cơ quan chức năng đã thu giữ, xét thấy đây là vật chứng của vụ án, dao cũ đã qua sử dụng, không cần thiết để sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý, giải quyết theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ông Hà Phúc D xác nhận: Ông là chú của bị cáo Hà Phúc Q, ngày 11/02/2021 Hà Phúc Q gây thương tích cho Hà Doãn B, sau khi gây thương tích cho bị hại B, Hà Phúc Q có báo cho gia đình biết để nhờ sự giúp đỡ, hỗ trợ việc bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Trước khi mở phiên tòa thay mặt gia đình ông đã thanh toán cho bà Hà Thị K là mẹ đẻ của Hà Doãn B được số tiền 25.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng là phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/02/2021, tại khu vực cổng trường THCS X, thuộc thôn L, xã X, huyện C, tỉnh T, do mâu thuẫn cá nhân Hà Phúc Q đã có hành vi dùng 01 con dao chém 01 nhát trúng vào cẳng tay trái của Hà Doãn B gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 47% (Bốn mươi bảy phần trăm) sức khỏe. Đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Hà Phúc Q đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Hà Phúc Q là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc sử dụng dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào tay của bị hại có thể gây thương tích nhưng vẫn thực hiện, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi (17 tuổi 11 tháng 29 ngày). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tích cực tác động để đại diện gia đình thay bị cáo thực hiện bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại (trước khi bị cáo gây thương tích cho bị hại thì bị hại đã dùng tay trái đấm vào mặt bên phải của bị cáo trước). Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy đinh định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và quy định tại Chương XII phần thứ nhất, những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thực hiện tội phạm nghiêm trọng, để có tính răn đe, trừng trị, người phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi, khi quyết định hình phạt mức án áp dụng bằng ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại số tiền 103.270.000 đồng. Tại phiên tòa giữa bị cáo và bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại, bị cáo Q có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho Hà Doãn B tổng số tiền là 75.000.000 đồng; trước khi mở phiên tòa đã thực hiện bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền là 50.000.000 đồng. Xét thấy nội dung thống nhất, thỏa thuận về việc giải quyết bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại là ngay tình, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về số tiền bồi thường thiệt hại, buộc bị cáo Hà Phúc Q tiếp tục có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại theo thỏa thuận.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã thu giữ 01 dao dài 37,5 cm, chuôi dao bằng gỗ, bản rộng trung B 5,5cm, loại dao một lưỡi sắc, trên bản dao có khắc "KM-21BA..." và có một lỗ tròn đường kính 01cm (dao cũ đã qua sử dụng). Xét thấy con dao trên là của gia đình ông Hà Phúc S1, bị cáo Hà Phúc Q đã sử dụng làm công cụ phạm tội, tuy nhiên khi bị cáo Hà Phúc Q lấy dao, sử dụng vào việc phạm tội ông Hà Phúc S1 không biết; tại phiên tòa ông Hà Phúc S1 không có yêu cầu nhận và sử dụng con dao, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Văn Đ, quá trình điều khiển xe máy cùng Hà Phúc Q đến trường THCS X; sau đó Hà Phúc Q đã gây thương tích cho Hà Doãn B. Khi đi cùng Hà Phúc Q thì Nguyễn Văn Đ không biết Q mang theo dao để gây thương tích cho người khác, do vậy không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với Hà Phúc S, khi Hà Phúc Q hỏi mượn dao, không nói cho S biết mục đích Q mượn dao để sử dụng vào việc gây thương tích cho người khác, do vậy không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với Hà Doãn B trước khi bị Hà Phúc Q gây thương tích đã có hành vi dùng tay đánh 02 phát vào vùng mặt của Q, quá trình điều tra Q từ chối giám định thương tích. Ngày 03/8/2021, Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, do vậy không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 48, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Hà Phúc Q phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt Hà Phúc Q, 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 08/4/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thống nhất, thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo Hà Phúc Q với bị hại Hà Doãn B và người đại diện hợp pháp của bị hại Hà Doãn B (bà Hà Thị K) như sau: Hà Phúc Q có trách nhiệm bồi thường cho Hà Doãn B số tiền là 75.000.000 đồng, đã thực hiện bồi thường được 25.000.000 đồng, còn phải thực hiện bồi thường tiếp số tiền là 50.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 dao, loại dao bài một lưỡi sắc, trên bản dao có khắc chữ "KM-21BA..." và có một lỗ tròn đường kính 01cm, dao cũ đã qua sử dụng. Tình trạng, đặc điểm tài sản tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 06/9/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.

Hà Phúc Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 22/9/2021.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ