vanban.org

Bản án 77/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hữu H.

Về quan h hôn nhân: ông Nguyễn Hữu H được ly hôn bà Lê Th Bích T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 181, quyển số 01, ngày 09/11/2011 do Ủy ban nhân dân phường Mỹ Bình cấp không còn giá tr pháp lý. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hữu H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 77/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 06-4-2021
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Th Di u Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đ ng Hữu Tấn.

Bà Huỳnh Th Thúy Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 563/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1978. (có m t).

Đ a chỉ: ấp T, xã B, huy n T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: bà Lê Th Bích T, sinh năm: 1978. (vắng m t).

Đ a chỉ: số 9A, đường Tôn Đức Thắng, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi ki n, tờ tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H trình bày: do gia đình mai mối nên ông và bà T tiến tới hôn nhân vào năm 2001, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy đ nh pháp luật, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 3 – 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc nhưng vì con cái nên cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân, mâu thuẫn kéo dài đến năm 2011 thì phát sinh thêm mâu thuẫn khác là bà T thường xuyên ghen tuông vô cớ. Đến năm 2019 vợ chồng thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung trong vi c dạy dỗ con cái kéo dài đến năm 2020 thì ông chuyển vào sống và làm vi c tại cơ quan, không thường xuyên về nhà. Vì lý do này nên bà T nhắn tin đe dọa tinh thần của ông và có hành vi dùng xăng tạt đe dọa tính mạng của ông. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn kéo dài nhiều năm không thể hàn gắn, ông xác đ nh không thể tiếp tục chung sống với bà T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà T.

- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003 đang sống chung với ông và Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011 hi n đang sống chung với bà T. Tại đơn khởi ki n, ông yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Đến ngày 11/01/2021, tại phiên hòa giải, ông H thay đổi yêu cầu khởi ki n, đồng ý giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa, ông xác đ nh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi cháu H, ông đồng ý để bà T trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 2.000.000 đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án b đơn bà Lê Th Bích T vắng m t nhưng tại phiên tòa ngày 08/3/2021, bà T có m t và trình bày các nội dung sau: Do gia đình mai mối nên ông H và bà tiến tới hôn nhân vào năm 2001, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy đ nh pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H có người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm gia đình nhưng vì con nên vợ chồng cố gắng hàn gắn tình cảm nhiều lần, đến năm 2020 thì ông H bỏ đi, làm vi c và ở lại sinh sống tại nơi công tác là Trại giam Đ nh Thành đồng thời không về nhà, không quan tâm, chăm sóc con. Đối với yêu cầu ly hôn của ông H, bà không đồng ý.

- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003 và Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011 hi n đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: trong quá trình giải quyết vụ án bà T vắng m t và không gửi đơn yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm: Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm. Về thời hạn chuẩn b xét xử thực hi n đúng theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vi c tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, b đơn thực hi n đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy đ nh tại Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Hữu H; về con chung Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003 đang sống chung với ông H và Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011 hi n đang sống với bà T. Cháu H, cháu D có nguy n vọng muốn sinh sống với ông H. Tại phiên tòa, ông H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Đồng ý giao cháu D cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, tự nguy n cấp dưỡng cho cháu D 2.000.000 đồng/tháng.

Để đảm bảo ổn đ nh về tinh thần và quyền lợi mọi m t cho con chung, đề ngh Hội đồng xét xử giao cháu H cho ông H chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu D cho bà T chăm sóc nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguy n của ông H cấp dưỡng cho cháu D mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Hữu H yêu cầu ly hôn với bà Lê Th Bích T. Bà T có nơi cư trú tại số 9A, đường Tôn Đức Thắng, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy đ nh tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 08/3/2021, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ban hành Quyết đ nh tạm ngừng phiên tòa số 13/2021/QĐST-HNGĐ ấn đ nh cụ thể thời gian, đ a điểm mở lại phiên tòa, b đơn bà Lê Th Bích T đã được Tòa án tri u tập hợp l đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng m t nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t theo quy đ nh tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan h hôn nhân: ông Nguyễn Hữu H và bà Lê Th Bích T xác lập quan h vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy đ nh của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo v . Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc, bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài từ năm 2009 đến nay, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không được. Trong quá trình giải quyết vụ án ông H xác đ nh không còn tình cảm với bà T, giữa vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên ông vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, bà T không đồng ý đối với yêu cầu ly hôn của ông H.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguy n, ông H xác đ nh không thể tiếp tục chung sống cùng với bà T, hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng và kéo dài nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được và vợ chồng không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay, giữa vợ chồng không còn thực hi n các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H là phù hợp quy đ nh tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003 hi n đang học bán trú tại trường THCS – THPT Bán trú và Nội trú Hồng Hà và Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011 hi n đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi cháu H, ông đồng ý để bà T trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 2.000.000 đồng. Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy từ khi ông H và bà T không còn chung sống với nhau thì cháu D sống với bà T đã ổn đ nh, m c dù cháu D có nguy n vọng được sống với ông H nhưng quá trình chung sống với bà T thì cháu cũng được chăm sóc tốt, môi trường học tập và sinh hoạt của cháu đã ổn đ nh, tại các biên bản xác minh ngày 12/3/2021 tại trường Tiểu học Nguyễn Du và tại khóm Bình Long 2, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên thì cháu D vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, kết quả học tập đạt, bà T cũng không có hành vi đánh đập ho c ngược đãi cháu D. Đối với cháu H thì cháu đang học bán trú tại trường THCS – THPT Bán trú và Nội trú Hồng Hà (số 170, đường Quang Trung, phường 10, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh), tại đơn trình bày nguy n vọng của con ngày 15/3/2021, cháu H có nguy n vọng được sống với cha do cha có đủ điều ki n nuôi dưỡng và quan tâm, chăm sóc cháu nhiều hơn mẹ. Xét thấy để tránh sự xáo trộn về tâm lý cũng như thay đổi điều ki n môi trường sống đột ngột và đảm bảo cuộc sống ổn đ nh cho các cháu, Hội đồng xét xử quyết đ nh giao cháu Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, giao cháu Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguy n vọng của cháu H và phù hợp quy đ nh tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông H không có yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi cháu H nên bà T không phải cấp dưỡng cho cháu H, ghi nhận sự tự nguy n của ông H cấp dưỡng cho cháu D mỗi tháng 2.000.000 đồng. [6] Về tài sản chung: ghi nhận ý kiến của ông H trình bày không có tài sản chung, quá trình giải quyết vụ án bà T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [7] Về nợ chung: không đề cập giải quyết. [8] Về án phí: ông H phải ch u án phí sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hữu H.

- Về quan h hôn nhân: ông Nguyễn Hữu H được ly hôn bà Lê Th Bích T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 181, quyển số 01, ngày 09/11/2011 do Ủy ban nhân dân phường Mỹ Bình cấp không còn giá tr pháp lý.

- Về con chung:

Ông Nguyễn Hữu H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003.

Bà Lê Th Bích T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011.

Bà Lê Th Bích T không trực tiếp nuôi dưỡng cháu H nhưng bà có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục cháu H, không ai được ngăn cản bà T thực hi n quyền này.

Ông Nguyễn Hữu H không trực tiếp nuôi dưỡng cháu D nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục cháu D, không ai được ngăn cản ông H thực hi n quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết đ nh thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy đ nh.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà T không phải cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Vi t H, sinh ngày 22/6/2003.

Ông Nguyễn Hữu H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Th Mỹ D, sinh ngày 28/9/2011 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi có khả năng lao động ho c có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy đ nh pháp luật. Mức cấp dưỡng được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy đ nh.

- Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: ghi nhận ông Nguyễn Hữu H xác đ nh không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hi u lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông Nguyễn Hữu H và bà Lê Th Bích T vẫn phải liên đới ch u trách nhi m với tư cách b đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Hữu H phải ch u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn và phải ch u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng. Tổng cộng là 600.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005557 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Buộc ông Nguyễn Hữu H phải tiếp tục nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Ông Nguyễn Hữu H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Th Bích T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết theo quy đ nh pháp luật. Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ