vanban.org

Bản án 77/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 17/06/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cằm Thị H

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cằm Thị H và anh Trần Văn C (Trần Xuân C) được ly hôn. [2]. Về nuôi con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Chị H, Anh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cằm Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 06 - 2021
V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Huy Lợi

Ông Hồ Viết Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Từ Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/6/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 59/2021/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2021/QĐST-DS ngày 31 tháng 05 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cằm Thị H. Sinh năm 1981;

Địa chỉ cũ: Xóm ĐT, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKHKTT mới và địa chỉ mới: Bản TM, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1981 (Theo Sổ hộ khẩu và giấy khai sinh của các con thì bị đơn có tên). Tên gọi khác: Trần Xuân C (Theo bản gốc giấy Đăng ký kết hôn, sinh năm 1979); Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm ĐV, xã NX, huyện Q, Nghệ An. Hiện nay đang ở đảo Síp. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 22/02/2021 và bản tự khai ngày 22/04/2021, chị Cằm Thị H trình bày: Chị H và anh Trần Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An vào ngày 21/06/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng sống H thuận, hạnh phúc và có 02 con chung. Chị H và anh C đã sống với nhau 17 năm, trong cuộc sống cũng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh C thường xuyên đi uống rượu về đánh đập chị H. Từ năm 2016, anh Trần Văn C đi làm ăn tại Đảo Sip đến nay không về. Từ khi đi làm ở đảo Sip không gửi tiền về để nuôi con, cũng không liên lạc về với chị H, nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Xuân C.

Về con chung: Chị H và anh Trần Xuân C có 02 con chung là cháu Trần Thị H sinh ngày 16/7/2000, cháu Trần Xuân Th sinh ngày 6/8/2007. Hiện tại hai cháu đang ở với chị H, ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung vợ chồng: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 28/7/2020 chị Cằm Thị H có đơn xin Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Xuân, huyện Nghĩa Đàn xác nhận anh Trần Xuân C sinh ngày 19/4/1979 trong giấy Đăng ký kết hôn và anh Trần Văn C sinh ngày 24/7/1981 trong sổ hộ khẩu và giấy khai sinh của các con là một người.

Chị Cằm Thị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án, toàn bộ ý kiến giữ nguyên như trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị H đã gửi cho Tòa án.

Về phía anh Trần Xuân C: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Trần Văn C có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử…cho anh C thông qua ông Trần Văn D và bà Bùi Thị Hạ là bố mẹ của anh C; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh C vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của ông D, bà Hạ thì anh C có điện thoại về cho ông bà nhưng không nói địa chỉ hiện tại anh C ở đâu và có ý kiến đồng ý ly hôn với chị H, đề nghị giao hai cháu Trần Thị H, Trần Xuân Th cho chị H nuôi, về tài sản, không yêu cầu giải quyết.

Cháu Trần Xuân Th trình bày: cháu là con của mẹ H, bố C, từ khi bố đi nước ngoài cháu ở với mẹ, nay bố mẹ ly hôn nhau cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Cháu Trần Thị H trình bày: cháu là con của mẹ H, bố C, hiện tại cháu đã trên 18 tuổi đã đủ tuổi trưởng Th nên cháu ở với ai cũng được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung khởi kiện của chị Cằm Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Trần Văn C; giao các con chung của vợ chồng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng Th; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Văn C vắng mặt, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đối với anh C. Bố mẹ anh C là ông Trần Văn D và bà Bùi Thị Hạ cho biết anh C đi xuất khẩu lao động tại đảo Sip, nhưng ông bà không biết địa chỉ hiện tại của anh C nên không cung cấp được cho Tòa án. Kết quả xác minh tại địa pH, anh Trần Văn C có hộ khẩu tại xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, hiện không sinh sống tại địa pH. Kết quả xác minh tại Cục quản lý xuất nhập cảnh, anh C xuất cảnh từ ngày 14/6/2015, chưa có thông tin nhập cảnh. Vụ án thuộc trường hợp không thể H giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37. Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Tòa án đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ hai lần nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Chị Cằm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Cằm Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị H và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống H thuận, hạnh phúc và có 02 con chung. Chị H và anh C đã sống với nhau 17 năm, trong cuộc sống thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh C thường xuyên đi uống rượu về đánh đập chị H. Từ năm 2016, anh Trần Văn C đi làm ăn tại Đảo Sip đến nay không về, từ khi đi làm ở đảo Sip không gửi tiền về để nuôi con, cũng không liên lạc về với chị H nên mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng hơn. Chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh C thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn với chị H.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh C không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trong, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Cằm Thị H. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Cằm Thị H được ly hôn với anh Trần Văn C.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh Trần Xuân C có 02 con chung là cháu Trần Thị H sinh ngày 16/7/2000, cháu Trần Xuân Th sinh ngày 6/8/2007. Đối với cháu Trần Thị H sinh ngày 16/7/2000, tính đến thời điểm hiện tại đã trên 18 tuổi đủ năng lực hành vi dân sự nên Tòa án không giải quyết ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Cháu Th hiện tại đang do chị H nuôi dưỡng. Anh C đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc cháu Th, anh C cũng có ý kiến đồng ý giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, nên cần giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Th là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Hiện nay chị H chưa yêu cầu và anh C chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét. Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3] Về tài sản chung, nợ: Chị Cằm Thị H không yêu cầu giải quyết và và anh Trần Văn C cũng chưa có ý kiến, vì vậy Tòa án không xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định.

[4] Về án phí: Chị Cằm Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cằm Thị H

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cằm Thị H và anh Trần Văn C (Trần Xuân C) được ly hôn.

[2]. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là cháu Trần Xuân Th, sinh ngày 06/8/2007 cho chị Cằm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng Th. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cằm Thị H không yêu cầu, anh C chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Cằm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003982 ngày 06/4/2021.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Chị Cằm Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Trần Văn C đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ